TRAN XUAN AN - TIEU SU BN. PCDT. NGUYEN VAN TUONG [ 1 ]

Cuốn sách này, tác giả biên soạn để làm sách dẫn, phục vụ việc nghiên cứu "Đại Nam thực lục chính biên (IV, V, VI)"; đồng thời, đây cũng là đề cương chi tiết của bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử của tác giả: "Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886)" (NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2004). Trần Xuân An.

10.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KÌ VĨ PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 6)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)

(tiếp theo)
(Tệp 6)
(chương sáu / tiếp theo / phần 2)


E. CHƯƠNG SÁU (phần 2)


38) Tự Đức năm thứ 34, Tân tị (1881): 58 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Tạm thuê thuyền nước Thanh ra Bắc tải gạo.
(ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 5).

XVI. THỜI THÔI GIỮ CHỨC ĐẠI THẦN QUẢN LÍ SỰ VỤ NHA THƯƠNG BẠC; VẪN ĐẢM NHIỆM VÀ KIÊM QUẢN CÁC CHỨC VỤ CŨ: THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN CỤC THUYỀN CHÍNH (VẪN VỚI HÀM HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ, TƯỚC HIỆU KÌ VĨ BÁ)

++ Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường thôi làm quản lí Thương bạc sự vụ. Bùi Ân Niên (Bùi Dị) thay thế.
(sđd., tr. 6).
---- (*) Có lẽ cũng nên trích dẫn một đoạn báo cáo của De Champeaux gửi Phủ súy Pháp tại Gia Định: “Hôm qua tôi đã tiếp kiến quan Thương bạc. Ông đến báo cho tôi biết là ông đã từ chức thượng thư Ngoại giao… Tôi không ngờ việc vận động nhỏ của tôi chống thượng thư đó lại có kết quả nhanh đến thế… Vì thấy rằng không thể mở rộng các mối quan hệ chính trị nếu cứ phải giao thiệp với quan Thương bạc mãi, tôi đã nghĩ phải buộc ông ta từ chức và [buộc] thay ông ta bằng một người ít chống đối ảnh hưởng của ta hơn… Quan Thương bạc vẫn còn là thượng thư Bộ Hộ và thứ trưởng Viện Cơ mật. Với tư cách sau, ông vẫn còn có thể chống đối chúng ta. Muốn thoát nạn, ta còn phải đập ông tan tành cả ở phía ấy” (De Champeaux, gửi thống đốc Nam Kì, từ Huế, 06.02.1881 [mùng tám Tết Nguyên đán Tân tị], AOM. Aix, Amiraux 12923, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB. KHXH.TU. Tp. HCM. xb., sđd., 1993, tr. 270). Xin khảo chứng, đối chiếu với bài dụ của Tự Đức, ngày 19.5 âl., TĐ. 34 [1881] (trích từ: Thơ văn Tự Đức, tập II, “Ngự chế văn tam tập”, bài “Đuổi viên hành nhân Nguyễn Hoằng” (linh mục), Nxb. Thuận Hóa, 1996, tr. 176 – 177).
Tuy vậy, với chức năng Cơ mật viện đại thần, gọi đầy đủ từ ngữ là đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc hay gọi tắt là quan Viện – Bạc (một nhóm người, thường là tứ trụ triều đình), Nguyễn Văn Tường vẫn tiếp tục góp phần chỉ đạo về công tác đối ngoại (xem: ĐNTL.CB. ,tập 35, sđd., tr. 39). ----

++ Nhờ Pháp thử nghiệm quặng và than mỏ. Tự Đức bảo quan Cơ mật viện – Thương bạc: “Mọi việc mượn [nhờ] người [Pháp], tóm lại như giấc mơ mộng, không có kì nào được nên việc” (nguyên văn); phải tự trù tính làm việc.
(sđd., tr. 6).
++ Việc vận tải, quan Thuyền chính (Nguyễn Văn Tường) tâu: Độ sâu của sông ở cửa Thuận An (Huế) chỉ 6 thước ta, tàu bọc đồng không vào ra được; xin làm thuyền nhỏ để san tải. Vua bảo, nếu mua của dân, đừng cưỡng ép giá (vì quan tỉnh Quảng Nam, quan Bộ Công tâu mua thuyền nhỏ của dân cho tiện).
(sđd., tr. 8).
++ Thông báo cho các sơn phòng, doanh điền, điển nông phải canh phòng cẩn mật vì thầy thuốc Pháp định đi du khảo bác vật, thực ra là đi dụ dỗ dân Thượng du (Bắc Kỳ…).
(sđd., tr. 9).
++ Viện Cơ mật – Thương bạc xét định lời tâu của Nguyễn Thông về dân Nam Kỳ ra ở tại Bình Thuận.
(sđd., tr. 9 – 10).
+++ Tháng hai âl..
++ Khâm sai Pháp Lơ Cờ Lô (?) đến thương thuyết việc buôn bán ở Hải Dương.
(sđd., tr. 11).
++ Hàn lâm viện tu soạn Phan Liêm mật tâu các khoản: Mở rộng việc buôn bán, góp vốn đi buôn, khai mỏ, học ngoại ngữ, cơ khí. Quan ở Viện Cơ mật xét định: Chỉ có việc mở rộng buôn bán, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, xem ra có phần không thuận tiên; các khoản khác, xin tư cho các tỉnh xét chọn người. Vua bảo phải tính kĩ nhưng không tiến là lùi.
(sđd., tr. 12 – 13).
++ Phạm Phú Thứ, Lê Tiến Thông bị giáng chức hàm. Phạm Phú Thứ: lãnh tả tham tri Bộ Binh; Lê Tiến Thông: làm việc ở Bộ Hộ. Án đã thành sau khi tra xét; nhưng được ân giảm; cả hai đều được làm việc tại triều.
(sđd., tr. 13).
++ Xét số thuế cả nước và 3 sở thương chính, vua bảo Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) rằng: Chưa dư dả, vì nguồn lợi tự nhiên còn bỏ, không nên “bóp nặn” ở thuế (mặc dù thuế thu được còn thiếu hụt cho việc chi dùng).
(sđd., tr. 14).
(xem lại: tập 31, sđd., tr. 104 và tr. 221).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) tâu xin thông báo cho các tỉnh kiểm xét ruộng đất ẩn lậu.
(sđd., tr. 15).
++ Vua bảo quan Viện Cơ mật – Thương bạc: Linh mục Nguyễn Hoằng dịch thiên vị, thêm vào, làm hỏng việc; thông tư cho Pháp thay cả kí lục Hinh (dịch chữ Hán sai nhiều).
(sđd., tr. 15).
++ Quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường xin đình thần nghị bàn về tình trạng thuyền của dân không chịu vận tải. Đình thần: Vì giá cả thấp; thuyền đi không được bảo hiểm. Biện pháp: khuyến khích bằng thưởng hàm.
(sđd., tr. 17 – 18).
+++ Tháng ba âl..
++ Quan chức Pháp đến các cửa biển kiểm xét thuế lệ.
(sđd., tr. 18).
++ Trừ thuế sắt cho 3 mỏ sắt ở Bắc Ninh.
(sđd., tr. 19).
++ Quan Cục Chiêu thương nước Thanh (Trung Hoa) Đường Đình Canh đến kinh đô, tâu xin làm giúp việc vận tải. Nước Thanh lập Cục Chiêu thương là nhằm cạnh tranh với người Tây. Tổng đốc Trực lệ làm khâm sai thự lí thông thương đại thần Lý Hồng Chương phái Đường Đình Canh đến gặp, đưa thư cho tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh, rồi mới đến Huế. Nay đã đến Huế, Đường Đình Canh muốn bàn cùng ta việc ra sức tiến lên giàu mạnh cho hai nước. Quan Viện Cơ mật – Thương bạc cùng bàn định chương trình vận tải và giá cả.
(sđd., tr. 20 – 21).
(xem thêm: tr. 54 – 55, tr. 59 – 62, tr. 89 – 01, tr. 163, tr. 170).
++ Bùi Ân Niên được đổi bổ thự hữu tham tri Bộ Hộ, vẫn quản lí Thương bạc sự vụ đại thần.
(sđd., tr. 22).
++ Thuyền buôn nước Thanh buôn người, bị Pháp bắt được.
(sđd., tr. 23).
++ Trần Hữu Viết cùng 20 lính đến Gia Định học bắn súng Tây.
(sđd., tr. 23).
(xem thêm: sđd., tr. 160).
++ Tôn Thất Thuyết về kinh đô (vốn nghỉ bệnh ở Thanh Hóa), xin chiêu bái. Vua Tự Đức cho là thác bệnh để tránh, không cho gặp, và phê bình Tôn Thất Thuyết: Kiêu căng, hẹp hòi, đa nghi, nóng nảy, lệch lạc, tính khí bất thường và khuyên cố gắng điều dưỡng, nên học hỏi thêm. Tôn Thất Thuyết xin nghỉ thêm một năm nữa.
(sđd., tr. 23).
++ Trần Nhượng: tuần phủ Nam – Ngãi.
(sđd., tr. 23).
+++ Tháng tư âl..
++ Nguyễn Trọng Hợp: tả tham tri Bộ Lại.
(sđd., tr. 24).
++ Dân tranh chấp ruộng, quan tỉnh chậm xử, để ruộng hoang hóa, vì thế dân thêm khó, lại thiếu thuế. Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) tâu xin phải có lệ định buộc quan tỉnh bồi thường.
(sđd., tr. 25).
++ Phan Liêm được cấp ấn “kinh phái quan phòng” đi khám xét mỏ than Quảng Yên. Vua bảo Cơ Mật viện – Thương bạc: Đó là việc quan trọng, Phan Liêm không được nói “không”.
(sđd., tr. 26).
++ Phạm Bính đưa 12 người đi sang Hương Cảng (Hồng Kông) học ngoại ngữ và kĩ nghệ. Nguyễn Hàm Quang: phó lãnh sự ở Gia Định.
(sđd., tr. 26 – 27).
++ Đắp thành đạo Mỹ Đức (Hà Nội). Quan Cơ mật viện: Xin đưa dân 2 huyện Sơn Minh, Thanh Oai làm phụ.
(sđd., tr. 29).
+++ Tháng năm âl..
++ Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường) nhân lúc gạo Bắc Kỳ xuống giá rẻ, xin cho các tỉnh mua để cất trữ.
(sđd., tr. 31).
++ Tự Đức cho lãnh trưng thuế thuốc phiện (!). Vua bảo Bộ Hộ, phải xem chừng người lãnh trưng nhũng nhiễu. Mặt khác, Tự Đức lại cho lãnh trưng với giá cao hơn, để thuốc phiện khó tiêu thụ, đỡ khốn cho xã hội.
(sđd., tr. 31).
(xem lại: ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 353).
++ Hành nhân (thông dịch viên) Nguyễn Hoằng bị cách chức, phải chịu giải giao về Hà Tĩnh để bị quản thúc. Lí do: khâm sứ Sâm Bô (Tham Bô [De Champeaux]) xin vào chầu tâu việc; quan Cơ mật viện – Thương bạc bảo không đúng thể lệ; Nguyễn Hoằng bẩm kín với quan Cơ mật viện – Thương bạc: Nếu không cho khâm sứ Pháp vào chầu, Pháp sẽ đem tàu binh đến ức hiếp. Vua Tự Đức cho người hỏi, Tham Bô (De Champeaux) chối.
(sđd., tr. 32 – 33).
++ Tha giảm thuế ruộng cho các nơi bị thất thu mùa hạ.
(sđd., tr. 33).
+++ Tháng sáu âl..
++ Tạm bỏ lệnh cấm mua gạo để buôn gạo ra nước ngoài. Súy và sứ Pháp nói mãi, nên vua bảo Cơ mật viện – Thương bạc cho bỏ lệnh cấm chỉ một tháng.
(sđd., tr. 37).
++ Nguyễn Trọng Hợp: quản lí Thương bạc đại thần.
(sđd., tr. 38).
++ Việc giao thiệp nhiều, khâm sứ Pháp cho là Nha Thương bạc chậm trễ. Nguyễn Trọng Hợp tâu: Các việc giao thiệp đều do các quan đại thần ở Viện Cơ mật hội đồng xét định, tâu xin cho thi hành… Vua bảo: Biết nói tất biết làm, cứ làm cho có hiệu quả; các quan đại thần cũng thể tất cho.
(sđd., tr. 38 – 39).
+++ Tháng bảy âl..
++ Nguyễn Thành Ý tâu, và Phan Trung lại tâu ra, cùng nội dung, mới biết chắc Pháp dụ ngầm người Thượng (ở Tây Nguyên…).
(sđd., tr. 42).
++ Đỗ Đệ về hưu. Đoàn Văn Hội thay: thư thượng thư Bộ Lễ.
(sđd., tr. 42 – 43).
++ Tha hoãn thuế cho Bắc Ninh.
(sđd., tr. 43).
++ Nước Tây Ban Nha (Y) đưa thư cho Thương bạc đại thần về tiền “bồi thường chiến phí” (!) và thương ước: Chờ Bộ Bách tính công đồng nước Tây ban Nha nghị định lại, sẽ gửi thư sau.
(sđd., tr. 44).
++ Tham Bô (De Champeaux): đổi làm lãnh sự Ninh Hải (Hải Dương); Lê Na (Rheinart) thay. Nguyễn Trọng Hợp đến thăm. Vua gợi ý thuyết phục Lê Na (Rheinart), y nên cố gắng có thiện chí để được tiếng thơm ở cả hai nước như Hoắc Đạo Sinh (Philastre).
(sđd., tr. 44).
++ Pháp che chở cho kẻ chuyên chở tiền đồng dị dạng (tiền đồng giả có dạng bất thường) ở Bình Định, lại còn đánh nhân viên được phái đi bắt.
(sđd., tr. 44 – 46).
+++ Tháng bảy nhuận âl..
++ Điển nông phó sứ Nguyễn Thông tâu: Người buôn Thanh đem tiền đồng dị dạng (tiền giả) chứa ở Gia Định, thông đồng với dân Bình Thuận, Khánh Hòa. Do đó, phải gửi thư cho cả 3 nơi về việc này: tổng đốc Lưỡng Quảng, sứ Anh ở Hương Cảng, súy Pháp ở Gia Định.
(sđd., tr. 47 – 48).
++ Tổng thống thủy sư Pháp Đa Phù Cô (?) du thám một loạt tỉnh Bắc Kỳ. Ô Mốt (?) (thương biện Pháp) đến Lạng Sơn.
(sđd., tr. 48).
++ Cho phép quan chính khanh đi lại thăm viếng sứ Pháp [tất nhiên có hộ tống theo quy cách].
(sđd., tr. 48).
++ Thượng thư Bộ Công Hồ Trọng Đỉnh [Liễn (?)] xin nghỉ.
(sđd., tr. 49).
++ Tỉnh Hải Dương được lệnh in 4 bộ sách Tây (“Vạn quốc công pháp”, “Hàng hải kim châm”, “Bác vật tân biên”, “Khai môi yếu pháp”) .
(sđd., tr. 49).
++ Thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật mật tâu 4 việc:
1. Xin đặt thêm đồn ở chỗ hiểm: các nha sơn phòng.
2. Xin chưa sẵn đá ở thuyền để kịp khi có việc, đánh chìm thuyền, ngăn tàu giặc Pháp.
3. Xin đem quân cứu viện cho chóng.
4. Xin xét cơ hội, điều kiện (lưu ý tấn công lúc Pháp chưa uống rượu để xông trận hoặc lúc chúng đã dã rượu; chú trọng các vũ khí quen dùng vì quân ta dùng súng chưa giỏi; chiến thuật phục kích, đánh úp).
Cơ mật viện đại thần bàn thêm:
1. Giữ ở biển khó vững, bởi súng đạn, tàu thủy là chỗ mạnh của Pháp. Tu sửa ngay các đồn lũy ở miền núi: làm kho chứa, thành trì, vững và đủ.
2. Việc giữ ở sông rất cần. Nhưng lấp ngay sẽ ngăn cản sự vận tải. Nên khám xét, đi đo thước tấc về độ sâu, bề rộng của sông… Đóng thêm thuyền để vận chuyển, có việc thì đánh chìm với đá…
3. Cứu viện nhanh, rất cần. Các tỉnh mật ghi để tiến hành…
4. Không thể không dùng súng dù chưa giỏi.
Vua Tự Đức bảo cần tuyệt đối bí mật, và mật dụ cho các tỉnh thi hành, nhưng cũng đừng để lộ tiếng tăm, dấu vết.
(sđd., tr. 50 – 52).
Phòng thủ theo chiến thuật hư binh, chứ không phải phòng thủ theo lối thị uy.
++ Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường): định lệ thưởng người phát hiện tiền giả.
(sđd., tr. 53).
+++ Tháng tám âl..
++ Vũ Trọng Bình tâu xin cho Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) phái người thu thuế phù sa. Nguyễn Văn Tường khen Vũ Trọng Bình vốn thanh liêm, xin chuyển cho tỉnh thần Vũ Trọng Bình ủy phái người.
(sđd., tr. 54).
++ Làm phao gỗ nổi ở mặt sông (trước đây Trần Tiễn Thành dâng mẫu).
(sđd., tr. 54).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) dự định việc sẽ gặp Đường Đình Canh (nước Thanh) để bàn tính về vận tải.
(sđd., tr. 54 – 55).
++ Tha thuế thiếu cho 3 huyện ở Thành Hóa.
(sđd., tr. 57).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) định lại lệ cấm tiền đồng giả nhập cảng, cấm vàng bạc xuất cảng.
(sđd., tr. 57).
++ Các quan chính khanh hội bàn tìm người thay Hồ Đăng Phong (hộ lí tổng đốc Bình – Phú, đang ốm, nghỉ): Đề cử Phạm Thận Duật, Phạm Phú Thứ, Lê Đình Tuấn. Vua: Nguyễn Hiệp (tên khác: Nguyễn Trọng Biện).
(sđd., tr. 58).
++ Lê Na (Rheinart) nói với Nguyễn Trọng Hợp, đại ý: “Hòa” ước Giáp tuất (1874) tuy không viết hẳn ra là “bảo hộ”, nhưng đã ngụ ý ấy (*).
---- (*) Đây là câu nói xuyên tạc và áp đặt. ----
Lê Na (Rheinart) còn nói: Nay Pháp muốn buộc ta không được giao thiệp với nước nào khác. Chính phủ Pháp đã quyết buộc nước ta phải chấp nhận, mặc dù ta không chịu.
Triều đình lo lắng. Quan Cơ mật viện – Thương bạc tâu:
1. Không tranh luận với tướng súy Pháp, khâm sứ Pháp, vì chúng mưu tính việc ấy đã lâu, nay sắp sửa đạt cho được mưu đồ ấy.
2. Phái Nguyễn Lập thay làm lãnh sự, cho Nguyễn Thành Ý về kinh, để hỏi tình hình Pháp.
3. Bàn về hai khoản: đặt sứ ta ở Pháp và sai sứ bộ đi Pháp với danh nghĩa khác, nhưng thực chất là cho chính phủ Pháp hiểu rõ quan điểm của ta và để công lí được sáng tỏ.
4. Nhất định cử sứ bộ ngay, kẻo lỡ việc.
Vua Tự Đức bảo: Phải tính việc trước.
Quan Cơ mật viện – Thương bạc lại tâu:
1. Pháp đã âm mưu từ rất lâu. Pháp cố buộc ta không giao thiệp với nước nào. Đó là sự xảo quyệt của Pháp.
2. “Hòa” ước 1874 có câu: “Nước ta muốn định thương ước với nước nào đều được tùy tiện” . Pháp không thể trái ước. Tuy vậy, Pháp vẫn ngấm ngầm cản ta từ sáu, bảy năm nay.
3. Sáu, bảy năm nay, ta chỉ sợ khích biến.
4. Nay không thể không theo lí mà làm; làm sáng tỏ cho chúng biết. Ta không trái ước.
5. Nay xin sửa soạn tàu của ta, chọn người đi du học đến các nước Y (Tây Ban Nha), Anh, Phổ (Đức), Mỹ, cho các nước biết ta tự chủ. Nhân đó, vận động các nước ủng hộ ta, nếu Pháp bắt ức.
6. Việc cần kíp là sang Yên Kinh (Trung Hoa). Sứ thần các nước ở đấy.
7. Đường Đình Canh (quan Thanh, Trung Hoa) sắp đến. Xin để chúng tôi thương thuyết, nhờ Lý Hồng Chương (đại thần Trung Hoa) thông thuyết với Anh, Mỹ, Phổ (Đức) và Y (Tây Ban Nha)…
8. Nước Thanh gần đây tranh nước Lưu Cầu (Riu Kiu) với Nhật Bản mà không được (*).
---- (*) Để chia chác quyền lợi, chính tổng thống Mỹ Gơ Răng (Grant) đã đến Trung Hoa điều đình vào lúc bấy giờ để nước Lưu Cầu (Riu Kiu) mất hẳn vào tay Nhật, thành đảo Ô Ki Na Goa (Okinawa). Trung Hoa muốn tranh giành Lưu Cầu (Riu Kiu) để làm rào giậu phía biển đông. ----
Nay hẳn nước Thanh sẽ giúp ta, cũng là tự giúp. Đã có một nhật báo viết như thế. Nước Thanh hẳn cũng lo, nếu nước ta có bề gì, bởi nước ta là rào giậu phía nam của nước Thanh.
(sđd., tr. 59 – 62).
(xem thêm: Ghi chú ở cuối mục tháng mười âm lịch, Tân tị [1881], ngay ở một, hai trang kế tiếp trang này).
(xem thêm: sđd., tr. 89 – 91 và ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 40, 91: trung lập, ngoại giao đối trọng, “tọa sơn quan song hổ đấu” [ngồi trên núi, xem hai con cọp đấu nhau]).
++ Bắc Kỳ bị bão to. Phan Đình Phùng, Đặng Trần Hanh đi xét hỏi và phát chẩn. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Huy Kỷ khác với các quan tỉnh khác (vì các hào phú trong tỉnh đã giúp chấn tế): Xin đình việc phát chẩn. Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường): Tin lời Nguyễn Huy Kỷ (nổi tiếng là Phật sống); vả lại, tiền phát chẩn 10 phần xuống đến dân chỉ còn một, hai; xin như tỉnh Bắc Ninh, giúp nhau làm nhà, khuyên bảo hào phú tương trợ dân nghèo; tiền của Triều đình đợi khi thật ngặt, sẽ cấp tận tay. Vua bảo, chỉ chút đỉnh, chẳng đủ vào đâu, nhưng là lòng vua; và nghiêm cấm lại dịch tham ô.
(sđd., tr. 62 – 63).
(xem thêm: sđd., tr. 74, tr. 87).
+++ Tháng chín âl..
++ Giảm và tha thuế cho các huyện châu thuộc tình Tuyên Quang.
(sđd., tr. 65).
++ Đặt chức tuần kiểm ở các cửa biển Bình Thuận; lệnh cho khâm phái Gia Định xét kĩ thuyền buôn chở tiền giả.
(sđd., tr. 65).
++ Người buôn Tây lên Vân Nam (Trung Hoa); trên đường đi, bọn ấy khiêu khích Lưu Vĩnh Phúc rồi về. Lãnh sự Pháp lại trách ta!
(sđd., tr. 66).
++ Quan Thuyền chính (Nguyễn Văn Tường) xin cấp tiền tuất cho dân lặn xuống nước tìm thuyền đắm, chẳng may bị chết.
(sđd., tr. 66 – 67).
++ Đóng 15 chiếc thuyền kiểu “Thanh hương trường độ”, nhẹ và nhanh, san tải tốt.
(sđd., tr. 67).
+++ Tháng mười âl..
++ Nhân tên đỏ, thuộc hạ Sứ quán, sinh sự kiểu du côn, khâm sứ Lê Na (Rheinart) lại ăn nói bất tốn và tỏ ra trịch thượng với Nha Thương bạc. Nha Thương bặc phải bất đắc dĩ theo như chúng yêu cầu…
(sđd., tr. 69).
++ Phái viên tỉnh Quảng Yên Phan Liêm đem phép thí nghiệm than mỏ trình Cơ mật viện.
(sđd., tr. 71 – 72).
++ Vì việc Lê Na (Rheinart) cố chấp ngang ngược, và người buôn Tây khiêu khích Lưu Vĩnh Phúc, nên Trần Thúc Nhẫn đi Gia Định thương thuyết.
(sđd., tr. 73).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) theo lệnh vua hỏi han tình hình bão ở Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 74).
++ Quan Cơ mật viện – Thương bạc xin cho quan 2 tỉnh Hải Dương, Hà Nội thương thuyết để ngăn phái viên Pháp đi xem các mỏ than.
(sđd., tr. 75).
++ Tha thuế quan tấn (thuế cửa biển) cho Bắc Kỳ bị bão: 2 phần 10.
(sđd., tr. 75).
++ Tăng lương cho tham biện, thương biện… thuộc Viện Cơ mật.
(sđd., tr. 76).
++ Giảm văn thư cho Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường).
---- (*) Vào ngày 30-11-1881 (tức là ngày mùng 09 tháng 10 âl. này, thuộc năm Tân tị), Lê Na (Rheinart), khâm sứ Pháp tại Huế, phúc trình (báo cáo trả lời) cho Phủ súy Pháp tại Gia Định: “Khi trở thành đứng đầu phe cứng rắn, chính [Nguyễn Văn] Tường đã xúi Tự Đức xem thường hiệp ước 1874...” . Dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 270: trích dẫn tư liệu lưu trữ của Pháp (Rheinart, 30. 11. 1881, AOM. Aix, Amiraux 12940) và theo Taboulet.
Người biên soạn (Trần Xuân An) nghĩ và có thể xác định chắc chắn rằng: Bản phúc trình của Rheinart ghi trên, là nhằm vào bản tấu tháng 08 âm lịch vừa qua của Cơ mật viện – Thương bạc (sđd., tr. 59 – 62). Tất nhiên là Rheinart suy nghĩ và diễn đạt theo quan điểm của một tên thực dân. Đúng ra Nguyễn Văn Tường không xem thường “hòa” ước Giáp tuất 1874, mà vin vào đó để đấu tranh chống sự xuyên tạc, áp đặt của Pháp vào “hòa” ước ấy (xem lại: ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 59 – 62). ----

+++ Tháng mười một âl..
++ Pháp lại yêu sách đòi đuổi Lưu Vĩnh Phúc. Quan Cơ mật viện – Thương bạc cho rằng, phải nhân nhượng. Vua nghe theo.
(sđd., tr. 79).
---- (*) Quan Cơ mật viện – Thương bạc thường là bốn đại quan, tứ trụ triều đình (người đứng đầu là Trần Tiễn Thành, người có vị trí thứ hai là Nguyễn Văn Tường; hai người ngày càng có quan điểm khác biệt nhau). Theo phương pháp loại suy: Có lẽ quan điểm nhân nhượng Pháp này là của Trần Tiễn Thành. ----
++ Lê Đình Tuấn chết.
(sđd., tr. 82 – 83).
++ Quan tỉnh Nghệ An Trần Văn Chuẩn xin hoãn việc đóng thuyền. Đình thần cho rằng không thể nương nhờ nước Thanh việc vận tải mãi; không có thuyền, không cách gì khác.
(sđd., tr. 82 – 83).
++ Lưu Vĩnh Phúc về châu Khâm (Trung Hoa) thăm mồ mả tổ tiên.
(sđd., tr. 83).
++ Tha thuế cho hai tổng ở Tuyên Quang.
(sđd., tr. 83).
++ Nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết: thự thượng thư Bộ Binh. Lê Hữu Tá: đổi bổ thự thượng thư Bộ Công.
(sđd., tr. 83).
Xin lưu ý: Đến thời điểm này (tháng 11 âl., Tân tị [1881 ---> “82]) Tôn Thất Thuyết mới bắt đầu vào nhận chức ở triều đình. Xác định về ngày tháng rõ hơn một chút, như sau:
Đơn cử một ngày âm lịch / dương lịch để so sánh: 01 tháng 12, Tân tị = 20 tháng 01-1882.
Như vậy đã có 20 ngày tháng giêng thuộc năm dương lịch 1882 ở trong tháng 11 âm lịch, năm Tân tị.

++ Quan Cơ mật viện – Thương bạc dâng kế hoạch vâng phái sứ bộ sang Pháp. Nguyễn Trọng Hợp: chánh sứ; Nguyễn Thành Ý: phó sứ; Vũ Ngọc Tuân, Phạm Như Xương: tham biện. Vua khen Nguyễn Trọng Hợp. Nhưng rồi không đi được vì nhiều sự biến xảy ra.
(sđd., tr. 84).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Nước Y Pha Nho (Espagnol) tặng kim khánh đến vua và các đại thần (Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Đỗ Đệ, Phạm Phú Thứ và Hoàng Diệu), theo nghi lễ ngoại giao (thương ước giữa hai nước).
(sđd., tr. 85 – 86).
++ Quan khoa đạo Lê Đĩnh từ Hương Cảng (Hồng Kông) trở về. Trước đây, Lê Đĩnh đi cùng Phạm Bính, Hà Văn Quan.
Vua hỏi tình hình và dư luận bên ấy về nước ta. Lê Đĩnh tâu:
1. Quân đội Anh chuyên tập luyện (chuyên nghiệp). Các việc khác không bắt lính làm.
2. Các nước Tây giàu mạnh là nhờ quân đội và thương mại. Tàu binh bảo vệ tàu buôn; tàu buôn nuôi tàu binh.
3. Nhật Bản theo gót các nước Tây. Nước Thanh (Trung Hoa) cũng bắt chước như thế: lập Cục Chiêu thương; sang Anh buôn bán; chọn thanh niên tuấn tú đi học kĩ nghệ; rước thầy ngoại quốc về dạy. Hiện nay, từ làm súng, đóng tàu, đến sản xuất bao diêm, đá lửa đều làm được.
4. Các nước khen nước ta tài nguyên phong phú, người thông minh, duy văn thư [hành chính] phiền phức, làm việc câu nệ, khá trở ngại.
(sđd., tr. 86 – 87).
++ Phan Đình Phùng tâu: Tuần phủ Bắc Ninh Nguyễn Huy Kỷ thiên về Phật giáo; tuần phủ Quảng Yên Trần Văn Tuy (?) say rượu cả ngày, công việc đều do bố chính, án sát làm. Ngô Đôn, Vũ Hữu Liễn (người trong hạt; thuộc hạ của Nguyễn Huy Kỷ) khen Nguyễn Huy Kỷ là Phật sống: gần gũi dân, lại dịch (các thư lại, chức dịch thuộc cấp) sợ uy, dân yên ổn (*). Đình thần bàn: Không chắc Nguyễn Huy Kỷ là Phật sống, nhưng chưa thấy có tì vết gì; và chê trách Trần Văn Tuy.
(sđd., tr. 87).
---- (*) Nguyễn Huy Kỷ từng đi sứ sang Trung Hoa, giữ chức bố chính Nam Định, tuần phủ Hưng Hóa, tham tán đại thần (cùng Nguyễn Văn Tường tiễu phỉ trong những năm trước đây). Tổng đốc Bắc Ninh là chức vụ hiện thời của ông. (Xem lại: ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 62 – 63; xem thêm: sđd., tr. 74). ----
++ Phạm Phú Thứ ốm, về quê; nay chết, được truy phục hàm hiệp biện đại học sĩ.
(sđd., tr. 88).
++ Lê Na (Rheinart) dâng thư chúc Tết, từ chối quà tặng. Vua không vui lòng. Quan Thương bạc (Nguyễn Trọng Hợp) … sợ và áy náy. Vua đành nhận thư.
(sđd., tr. 89).
++ Tổng đốc Lưỡng Quảng đã đưa thư báo trước về việc cho Đường Đình Canh sang nước ta. Nay đến Huế, Đường Đình canh đưa trình thư tổng đốc Quảng Đông (về việc vận tải, đi kinh lí…). Sợ Pháp ngờ vực, Nguyễn Văn Tường được lệnh gặp riêng, bàn kín với Đường Đình Canh.
Đường Đình Canh nói: Từ Tháng 10 âl., năm nay, khâm sai nước Thanh Tăng Kỷ Trạch ở Anh đã báo tin, rằng Pháp đã quyết tâm xâm lược Bắc Kỳ nước Đại Nam (Nghị viện Pháp đã chuẩn y). Pháp nhận định: Lấy Bắc Kỳ dễ như trở bàn tay. Việc đuổi Lưu Vĩnh Phúc chỉ là cái cớ. Và Trung Hoa đã hội bàn, báo tin cho Đại Nam để mưu tính ngay, mong giữ được Bắc Kỳ.
Nguyễn Văn Tường mật dặn Đường Đình Canh 3 việc:
1. Nếu Pháp trái “hòa” ước 1874 (*), thì nước Thanh cứ nhận Đại Nam làm thuộc quốc để đấu tranh giữa công luận các nước. Đại Nam xin đặt quan khâm sai tại kinh đô Trung Hoa để tố cáo trước dư luận thế giới (vì các đại sứ các nước ở đó).
---- (*) Vào năm 1876, sứ bộ nước ta sang nước Thanh (Trung Hoa) do Phan Sĩ Thục làm chánh sứ. Nhà Thanh không chấp nhận “hòa” ước Giáp tuất 1874, kí kết giữa Pháp và Đại Nam. ----
2. Lãnh sự các nước hiện đóng ở Quảng Đông, Đại Nam muốn đặt lãnh sự ở đấy để buôn bán, thông tin, giao du với các nước.
3. Đại Nam muốn nhờ tàu thuỷ nước Thanh (Trung Hoa) để cử người đi Anh, Nga, Phổ (Đức), Pháp, Mỹ, Áo, Nhật, xem xét và học tập.
Và nước ta gửi thư cho Trương Thụ Thanh, Lý Hồng Chương, cùng tặng quà cho họ. Trương Thụ Thanh không dám nhận, sợ Pháp ngờ! Lý Hồng Chương tặng thơ và tờ khải, nói về việc đều phải tự cường (2 nước Đại Thanh và Đại Nam đều phải tự nỗ lực, mỗi nước đều phải giàu mạnh).
(sđd., tr. 89 – 91).
(xem lại: sđd., tr. 59 – 62 và xem thêm: ĐNTL.CB., tập 36, bộ sđd., tr. 40, tr, 91).
Chính đường lối ngoại giao này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Hoa – Pháp (1883 – 1885). Đại Nam trung lập trong cuộc chiến tranh đó. Cuộc chiến tranh Hoa – Pháp (1883 – 1885) có tác dụng buộc Pháp phải sửa lại “hòa” ước Quý mùi (Harmand – Trần Đình Túc) [1883] (*) thành “hòa” ước Giáp thân (Patenôtre – Phạm Thận Duật) [1884] (**).
---- (*) & (**) Vai trò chính trong việc kí kết “hòa” ước 1883 là Nguyễn Trọng Hợp (phó khâm sai). Vai trò dự thương của Nguyễn Văn Tường ở “hòa” ước 1884 vẫn phải là quyết định! ----


39) Tự Đức năm thứ 35, Nhâm ngọ (1882): 59 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
(01- 01, Nhâm ngọ = 18-02-1882)
++ Bàn về việc thanh tra các kho trong kinh đô (Nội vụ, Vũ khố, Thương trường thuộc Bộ Hộ).
(ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 92).
++ Nội các, Quốc sử quán, Cơ mật viện chọn những bài thơ rất hay của bố chính sứ Đặng Tá.
(sđd., tr. 92 – 93).
++ Tàu thủy Pháp tìm thấy than mỏ Hà Lầm (Quảng Yên).
(sđd., tr. 93).
++ Bộ Hộ tâu xin bỏ Nha Doanh điền Thừa Thiên, vì hết đất hoang.
(sđd., tr. 94).
++ Không tặng kim tiền có dây tua cho lãnh sự Y Pha Nho (Tây Ban Nha) vì thương ước đã kí kết, nhưng từ lâu không thi hành, lại không trả lời về khoản tiền “bồi thường” (ngược ngạo!) trong “hòa” ước.
(sđd., tr. 94).
++ Lang trung Bộ Binh đi thực địa để vẽ bản đồ từ Quảng Nam trở vào, và cả Thừa Thiên.
(sđd., tr. 94).
++ Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết: kiêm cả Hải phòng sứ kinh kì.
(sđd., tr. 95).
++ Tàu thủy Pháp đến Bình Định, Phú Yên đo nước và vẽ bản đồ.
(sđd., tr. 95).
++ Đặt hải đăng ở Thuận Hòa, Quy Lai (Thừa Thiên).
(sđd., tr. 95).
+++ Tháng hai âl..
++ 3 linh mục Pháp đến truyền đạo Thiên Chúa ở nhiều tỉnh.
(sđd., tr. 97).
++ Pháp cố tình ngáng trở Xiêm giao tiếp với Đại Nam. Cơ mật viện phải đấu tranh. Nay sứ Xiêm đến trên tàu Pháp!
(sđd., tr. 98).
++ Tàu thủy Xích Mao (Anh) đo nước, vẽ bản đồ ở Cần Mông (Cầu Mông = Cù Mông ?).
(sđd., tr. 98).
++ Tướng Pháp tại Gia Định phái tàu binh đến Bắc Kỳ để xâm lược, nhưng bề ngoài mượn cớ đuổi Lưu Vĩnh Phúc. Vua biết rõ âm mưu ấy, cho sao thư của khâm phái Gia Định Nguyễn Lập báo cáo về sự việc trên, gửi đến các tỉnh: Phòng bị bí mật, nếu cần, bất đắc dĩ, cứ nổ súng. Mặt khác, dụ cho Hoàng Tá Viêm để Hoàng Tá Viêm bảo Lưu Vĩnh Phúc di chuyển nơi ở; hứa sẽ chu cấp nếu thiếu thốn (có người thu thuế thay cho Lưu Vĩnh Phúc ở Bảo Thắng, thuộc tỉnh Hưng Hóa). Đã thế, Pháp còn gây hấn, thì cho Lưu Vĩnh Phúc chống cự Pháp, ta không can thiệp; nhưng bất đắc dĩ mới vậy. Tự Đức vẫn muốn tình hình yên ổn.
(sđd., tr. 98 – 99).
Đây là thời điểm lịch sử đã bước sang giai đoạn mới: Pháp bắt đầu xâm lược hẳn Bắc Kỳ, xé bỏ “hòa” ước Giáp tuất (1874)!
++ Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Chính (Chánh, người Bình Dương, Nam Kỳ): kinh lược chánh sứ Bắc Kỳ; tham tri Bộ Hộ Bùi Ân Niên (vốn kiêm Đô sát viện): phó sứ. Nguyễn Chính và Bùi Ân Niên ra Bắc, đóng quân ở Sơn Tây, để lo trấn áp giặc Khách (Tàu phỉ) cho Hoàng Tá Viêm rảnh tay đối phó với giặc Pháp, bởi tàu binh Pháp đã đến Hà Nội, khiến lòng dân rúng động, và trong nhân dân, tiếng bàn tán náo động. Vua vẫn lặp lại lời dụ trước: Để cho Lưu Vĩnh Phúc và Pháp tùy sức đánh nhau, ta đứng ngoài; nếu cần, ta cũng phải đánh ngay (“điều quân”, “vận lương”) , kẻo lỡ việc. Mặt khác, Tự Đức cho Nguyễn Thành Ý (tả thị lang Bộ Hộ) vào thương thuyết với tướng Pháp ở Gia Định. Vua biết Nguyễn Thành Ý trong thời điểm này với nhiệm vụ ấy là trở thành con tin trong tay Pháp, “hiến thân cho triều đình” !
(sđd., tr. 99 – 100).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc ở thời điểm này: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật: chỉ còn 3 người (Nguyễn Chính đã ra Bắc Kỳ).
++ Quan tỉnh Hà Nội, Sơn Tây (Hoàng Diệu, Nguyễn Đình Nhuận, Hoàng Hữu Xứng) mật tâu kế sách phòng bị: Quyết giữ thượng du để giữ trung châu, vì giặc Pháp mạnh về tàu thủy (sông, biển); lấy Sơn Tây là địa điểm trọng yếu.
(sđd., tr. 100 – 101).
++ Tàu thủy Pháp đỗ ở Ni Sơn (Ninh Bình), cho thuyền nhỏ đến liên hệ với nhà thờ Thiên Chúa giáo. Dân sợ hãi. Phan Đình Bình xin giữ lại quân luân phiên mới đến lượt đổi ở tỉnh.
(sđd., tr. 101).
++ Chu Đình Kế kiêm tả tham tri Bộ Hộ (Bùi Ân Niên vừa ra Bắc, nên khuyết).
(sđd., tr. 101).
+++ Tháng ba âl..
++ Tàu chiến Pháp lại tăng cường ở Hà Nội, bỏ neo đỗ ở Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình. Lòng dân xôn xao. Vua sai quan tỉnh vin vào “hòa” ước (“tín” ước !?!) trách phái viên Pháp; lại sai quan Thương bạc trách Lê Na (Rheinart). Khâm sứ Lê Na (Rheinart) bảo, sợ việc nổ súng ở Hà Nội sẽ không thôi được; y muốn về nước. Vua Tự Đức biết rõ dã tâm độc ác của Pháp, vẫn cứ phòng bị mà không để lộ thanh tích (tiếng tăm, dấu vết).
(sđd., tr. 104 – 105).
++ Quan tỉnh ở Bắc Kỳ hoang mang… Hoàng Tá Viêm muốn đưa quân Thái Nguyên về Hà Nội; Trương Quang Đản muốn điều động quân biên giới về Bắc Ninh. Vua sợ phỉ Tàu nổi lên, giục Nguyễn Chính đi mau đến Sơn Tây hội bàn.
(sđd., tr. 106).
++ Vua hỏi các quan Cơ mật viện – Thương bạc. Thưa rằng: Quan tỉnh 1 đóng trong thành, 1 đóng ngoài thành để trong ngoài hô ứng giúp nhau; trong thành chuẩn bị khí giới, binh lính, ngoài thành mật kết sĩ dân, thân hào; làm nhiều cách đánh lừa giặc. Việc ngăn lấp sông nên thôi, vì Pháp sẽ vin vào để bắt lỗi ta. Vua cho rằng không thể chần chừ, chọn chỗ nông, lấp ngay, vì Pháp vẫn cậy ở đường sông; cắt đường sông kiểu đó, quân Pháp không thể thông vào bên trong đất liền. Việc làm ấy cốt ở người (kín đáo, biết giữ bí mật), cốt hợp thời nghi, không nên vội vàng, lầm lỡ.
(sđd., tr. 106).
Lấp hẳn chỗ nông. Chỗ sâu lấp theo hình ngũ điểm [đá ở thuyền; đục thuyền, cho chìm xuống]:
x x x x x x x x
x x x x x x x
Hạn chế của biện pháp này: Có thể cũng cắt luôn đường thông thương vận tải của dân, gây úng lụt, nếu gặp lũ lớn, nước chảy xiết, rều rác nhiều.

++ Tăng cường ngựa cho đường trạm, tăng cấp thưởng cho phu trạm.
(sđd., tr. 106 – 107).
++ Tha thuế cho 2 tổng ở Tuyên Quang.
(sđd., tr. 107).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) cho lính kinh (quân chủ lực) lãnh trước nủa tháng lương.
(sđd., tr. 107).
++ Bộ Binh rút quân biền binh về để huấn luyện.
(sđd., tr. 107).
++ Ưu đãi trong việc bổ nhiệm người Nam Kỳ (vốn là người mộ nghĩa, phải ra sinh sống tại tị địa ở Bình Thuận, do Phan Trung đề cử).
(sđd., tr. 108).
++ Ngày mùng 8 tháng 3 âl., Nhâm ngọ (1882), Pháp tấn công thành Hà Nội. Trước đó, Pháp khiêu chiến. Hoàng Diệu phòng bị nghiêm ngặt. Pháp muốn ta triệt bỏ súng ống. Hoàng Diệu không nghe. Pháp đưa chiến thư (ngày mùng 8). Tôn Thất Bá mới vừa ra khỏi thành để thương thuyết, Pháp tấn công ngay. Tổng đốc Hoàng Diệu, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chống giữ. Pháp và ta đều có bị thương và chết. Chiến đấu từ giờ mão (5 – 7 giờ sáng) đến giờ mùi (13 – 15 giờ chiều), bỗng kho thuốc súng bị phá! Pháp bắc thang leo lên thành. Thành mất! Hoàng Diệu tự sát ở miếu Quan Công, dưới gốc cây to. Các quan đề đốc, bố chính, lãnh binh… đều chạy thoát. Hoàng Hữu Xứng (người Quảng Trị) đang tìm Hoàng Diệu, bị giặc Pháp bắt. Hoàng Hữu Xứng bất khuất, mắng giặc. Giặc Pháp vẫn không giết, chỉ giam lại. Tôn Thất Bá bị Pháp đón về; chúng hứa sẽ trả thành. Hoàng Hữu Xứng đang tuyệt thực, Tôn Thất Bá gặp, khóc, bàn sự lợi, hại. Hoàng Hữu Xứng bèn nghe lời Tôn Thất Bá, chấp nhận việc Pháp trả thành, nhưng giao cho Tôn Thất Bá nhận một mình, tuy lại kí tên cả hai người vào tờ thông tư gửi cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính và các quan thuộc những tỉnh gần kề. Trong thư, có câu, đại ý: Nếu Hoàng Tá Viêm và các quan, các tướng thấy đánh được thì cứ đánh, đừng ngại trong thành còn có quan quân ta. Và hai người làm tập tâu nhận tội, tâu về kinh đô. Còn Pháp, chúng vẫn đóng quân ở hành cung trong thành.
(sđd., tr. 108 – 109).
Rõ ràng Tôn Thất Bá đã mắc mưu Pháp (thậm chí, đồng thuận với Pháp!). Và qua Tôn Thất Bá, Pháp đã lợi dụng giây phút yếu lòng của vị quan bất khuất Hoàng Hữu Xứng. Chính các bức thư của Hoàng Hữu Xứng và Tôn Thất Bá, dẫu sao, cũng đã khiến quan quân các quân thứ, các tỉnh và triều đình dao động. Phải chăng lắm người cứ ngỡ tình huống rồi sẽ như mùa đông năm Quý dậu 1873, năm Nguyễn Tri Phương tử tiết!
++ Nguyễn Chính được lệnh về Mỹ Đức hoặc Nho Quan (Hà Nội).
(sđd., tr. 109).
++ Phòng ngự ở Bình Thuận. Mật dụ cho các tỉnh khắp nước bí mật phòng ngự.
(sđd., tr. 109).
++ Quan hưu trí Trần Đình Túc (người Quảng Trị): khâm sai đại thần; đi tàu thủy nước Pháp ra Hà Nội nhận lại thành trì, vì Pháp đã hứa sẽ trả lại. Vốn đang ở Bắc, Nguyễn Hữu Độ (tĩnh biên phó sứ) được dụ làm phó khâm sai. Hoàng Hữu Thường, Vũ Nhự cũng cùng ra Bắc Kỳ để lo việc nhận thành nói trên. Bởi lẽ, Lê Na (Rheinart) đã đưa văn thư nói về việc trả thành Hà Nội cho quan Thương bạc Nguyễn Trọng Hợp.
(sđd., tr. 109 – 110).
++ Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính, Bùi Ân Niên dâng sớ xin đánh, sau khi phân tích âm mưu của Pháp là muốn bức ta phải làm “hòa” ước khác; vì vậy, muốn “hòa” thì phải đánh một trận rồi mới “hòa”, để ngăn lòng tham của chúng. Tự Đức cũng nói nước đôi (“hai mang”) .
(sđd., tr. 110 – 112).
++ Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ tâu: Hà Nội thất thủ, không có quân ứng cứu; xin đánh ngay, đánh ồ ạt cả nước như đình thần (quan triều đình), các thần (quan Nội các) tâu xin, hoặc gửi sứ bộ qua nước Pháp hỏi cho ra lẽ, hoặc lập “hòa” ước mới. Vua Tự Đức trách: Trút trách nhiệm, đổ lỗi cho triều đình; và vua bảo: Đừng nói nước đôi (“hai mang”!) .
(sđd., tr. 112 – 113).
++ Trước đây, tuần phủ Nam – Ngãi Trần Nhượng đem việc Bộ Hộ (chở tiền, lãnh trưng thuế…) không hợp cách, tâu lên. Vua cho là bất nhất và đùn đẩy; quan ở Bộ Hộ và quan tỉnh bị giáng cấp, lưu dụng.
(sđd., tr. 113 – 114).
Đây là việc xảy ra trước đây, nay lại bị xới lên, trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này, ngay tại Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường!
Xin lưu ý hai cụm từ nguyên văn: “Quan ở Bộ Lại” , “quan ở Bộ [Hộ]” (không phải là “quan Bộ Hộ” ). Chắc hẳn nhằm chỉ đến Bùi Ân Niên?

++ Bộ Binh: bổ cử nhân võ ở kinh; cử nhân võ có tú tài văn thì chuyển qua ngạch văn giai.
(sđd., tr. 115 – 116).
++ Triệu Ông Ích Khiêm về kinh.
(sđd., tr. 116).
++ Mật dụ cho các tỉnh hữu kì giữ yên vấn đề lương – giáo.
(sđd., tr. 116).
++ Thôi đánh thuế chở gạo về tỉnh cho các tỉnh phía nam.
(sđd., tr. 116 – 117).
++ Thương bạc viết thư cho tướng Pháp ở Gia Định, yêu cầu rút quân khỏi Hà Nội.
(sđd., tr. 117).
++ 13 người Nam Định bỏ đạo Thiên Chúa giáo.
(sđd., tr. 118).
++ Tham tri Bộ Công Lâm Hoành (người Quảng Trị) tâu nói: Đề phòng nạn ngoại xâm 20 năm nay, việc phòng thủ ở cửa Thuận An (Huế) sao vẫn sơ sài đến thế?
(sđd., tr. 118).
++ Lê Na (Rheinart) trách ta lo phòng thủ cửa Thuận An (Huế). Vua bảo: Trước sau Pháp chỉ muốn đem chữ “hòa” để đánh lừa ta chăng? Đồng thời, Tự Đức chỉ dụ: Phải tranh luận với y để vẫn phòng thủ.
(sđd., tr. 118 – 119).
++ Chia cất thuốc súng vì sợ như ở Hà Nội (kho thuốc súng bị phá nổ).
(sđd., tr. 119).
++ Quan Cơ mật viện – Thương bạc là nhóm Trần Tiễn Thành cho rằng so với thời thế, đánh Pháp ngay tức khắc chưa phải là kế sách nên làm; và chỉ nên sửa chữa thường theo lệ ở cửa Thuận An (bè nổi, hòm gỗ), không nên tăng cường, vì chưa chắc phòng thủ ở mặt biển là vững bền, mà thêm bị bắt bẻ; xin đình việc đắp lũy ở Thuận An; rút hết quân biền binh phái thêm về kinh để huấn luyện, lính cũ cũng phải huấn luyện nhiều hơn. Vua nghe theo.
(sđd., tr. 119 – 120).
Quốc sử quán xác định đây là ý kiến của Viện Cơ mật – Thương bạc, nhưng, khác với nhiều trang trước, ở trang này, Quốc sử quán cũng xác định luôn tên Trần Tiễn Thành (đứng tên ở tập tâu) và nhóm (tham biện, tư vụ trong Cơ mật viện), một cách minh xác, nhằm nói rõ ý kiến Trần Tiễn Thành khuynh loát cả Viện Cơ mật – Thương bạc, trong vấn đề tổ chức thực hiện cụ thể vốn thuộc về Bộ Binh này.
Sự phân hóa giữa chủ chiến với chủ hòa đã rất rõ rệt.

++ Nam Định tâu về việc khẩn điền, đào sông để tiêu nước ứ, đón nước ngọt vào ruộng.
(sđd., tr. 120).
++ Quân Thanh (Hoàng Quế Lan chỉ huy) về Bắc Ninh đóng với quân Trương Quang Đản để trấn áp.
(sđd., tr. 120).
++ Trần Tiễn Thành cử Nguyễn Văn Thi (tham biện Hải phòng Thuận An) và Lê Đại (chủ sự, viên ngoại lang Bộ Binh) làm ấn quan. Vua bảo Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Chính, Tôn Thất Thuyết từ trước đến giờ sao chưa đề cử ai.
(sđd., tr. 120 – 121).
Ghi chú bổ sung (2003):
Phải chăng những vị quan này không có ý lôi bè kết cánh? Hay nói với quan điểm đứng đắn hơn, họ không có ý liên kết, tạo thế cho những người chung một chính kiến? Hoặc họ rất dè dặt, cẩn trọng thái quá?
Thật ra, nếu nghiên cứu toàn bộ hành trạng của các vị đại quan này, với cái nhìn biện chứng, chúng ta sẽ thấy chính kiến của Trần Tiễn Thành và Nguyễn Chính là càng ngày càng chủ hòa, đến mức thỏa hiệp với Pháp, khác hẳn với chính kiến của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là càng lúc càng chủ chiến, chống Pháp quyết liệt và rất mưu trí.
Do đó, riêng về Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, sự đề cử, tiến cử của hai vị này, lúc này, là không phù hợp với quan điểm của Tự Đức.
Xem thêm: Trần Xuân An, “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” (bản thảo hoàn tất: 2002 & 2003), Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.

+++ Tháng tư âl..
++ Ngày mùng 1 âl., nhật thực.
(sđd., tr. 121).
++ Tha và giảm thuế cho Lạng Sơn.
(sđd., tr. 121).
++ Đắp thành tỉnh Hà Tĩnh.
(sđd., tr. 121).
++ Đặt đường sông vận tải ở Bắc Ninh.
(sđd., tr. 121).
++ Hồ Trọng Đỉnh chết.
(sđd., tr. 121).
++ Quan khoa đạo Lê Doãn Thành tâu hặc Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Nguyễn Chính: Thiếu dự phòng; không đánh ngay, để lỡ sự cơ; đến lúc Pháp hứa trả thành lại dâng sớ xin đánh; Nguyễn Chính khi đi đường nghe tin báo lại về thẳng Sơn Tây, chưa thấy thi thố gì. Đình thần bàn, xin giáng 4 cấp, lưu dụng. Vua cho là phải.
(sđd., tr. 122).
++ Bộ Hộ tâu về số ruộng Thanh Hóa khai khẩn thêm.
(sđd., tr. 122 – 123).
++ Vua Khen tinh thần tử tiết của Hoàng Diệu và cho tế bài vị thờ ông.
(sđd., tr. 123).
Triều Nguyễn vốn có một khoản quân luật rất nghiêm là phạt rất nặng những quan, những tướng để mất thành, bị thất trận và khen thưởng rất trọng cho những ai tử tiết, nên hầu như phải tự sát, nếu tướng, quan nào rơi vào trường hợp ấy. Điều đó buộc tướng và quan phải có tinh thần trách nhiệm cao độ, phải thể hiện khí tiết. Tuy nhiên, mặt hạn chế cần nhận ra: nhiều tướng cũng như quan có tài năng lớn, trong thế yếu, thất cơ, hoặc bị nội ứng, là phải tự sát. Các tướng và quan cỡ ấy lại khó tìm được người để thay thế! Do đó, trong điều kiện vũ khí quân đội triều Nguyễn quá lạc hậu, tướng tài, quan giỏi lắm khi phải tử tiết một các khá oan uổng và đáng tiếc. Đình thần triều Tự Đức đã nghị xử cẩn thận từng trường hợp một, không phải trường hợp tự sát vì thất trận, để mất thành nào cũng được đề cao, thậm chí còn bị kết án, truy đoạt chức hàm. Và vì mặt tích cực kia (trách nhiệm cao, khí tiết lớn), nên triều đình vẫn tôn vinh những tấm gương tử tiết như Hoàng Diệu.
++ Lê Na (Rheinart) xin bỏ cấm buôn gạo. Không cho.
(sđd., tr. 124).
++ Trần Đình Túc báo cáo tình hình 3 tỉnh Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh và đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc: Họp quân nghĩa dũng, lấp sông, đem tờ hịch yết thị, cắm chông, mai phục… Nhưng Trần Đình Túc trình bày rằng, dẫu thế nào cũng thua súng đạn tối tân của giặc Pháp (!). Chỉ sợ quân Pháp thấy vậy lại càng tấn công để khống chế như chúng đã làm ở Hà Nội, và vì thế càng khó thương thuyết. Trần Đình Túc xin vua rút về 4 chữ “khâm sai đại thần”, xin chỉ làm việc ở tỉnh Hà Nội. Vua cho Trần Đình Túc tránh trách nhiệm; bèn giáng cấp.
(sđd., tr. 124 – 125).
++ Khách buôn Hùng Tài Lộc gây hấn, đem người đánh phá cửa thành Hải Dương. Tổng đốc Lê Điều bắt chém. Lãnh sự Pháp bảo Hùng Tài Lộc là người của nước Anh. Cơ mật viện đưa thư cho lãnh sự Anh. Nguyễn Lập ở Gia Định cũng biện thuyết. Pháp cho rằng phải bồi thường. Tiền bồi thường, lại do lãnh sự Pháp tự tiện trừ ở thuế thương chính! Sứ thần hỏi lãnh sự Anh, y không hề nhận số tiền đó!
(sđd., tr. 126).
Rõ là một sự khiêu khích gấy rối của Pháp.
++ Phái viên Pháp vận nằng nặc vin cớ Lưu Vĩnh Phúc chưa rút quân để chúng vẫn chiếm đóng ở Hà Nội… Vua dụ Hoàng Tá Viêm giải quyết vấn đề Lưu Vĩnh Phúc. Hoàng Tá Viêm không tuân dụ, dâng sớ:
Pháp chưa thực tâm trả thành, lại nắm được quan khâm sai đại thần (Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ) trong tay, tha hồ muốn làm gì thì làm. Pháp muốn ta bỏ sự phòng thủ để chúng dễ tấn công. Ta phòng thủ, chúng lại yêu sách. Xin cho quan Thương bạc tranh luận với Pháp: Pháp rút tàu chiến, ta mới rút quân. Ta bảo đảm không để Sở Thương chính hề hấn gì. Phải có giấy tờ cam đoan để nước Thanh làm chứng. Nếu không, rút quân rồi, chúng tấn công là hết cách cứu viện.
Vua trách Hoàng Tá Viêm trái lệnh vua! Lại dụ Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc phải rút quân ngay.
(sđd., tr. 126 – 128).
Xin lưu ý: Hoàng Tá Viêm cãi lệnh dụ của vua Tự Đức!
+++ Tháng năm âl..
++ Vua ra lệnh trói quan tỉnh Hà Nội, giải về kinh. Nghị án và quyết án.
(sđd., tr. 128).
++ Lệnh cho Nguyễn Chính về Sơn Tây hội bàn. Hoàng Tá Viêm xin tuân lệnh rút đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc và xin giao Sơn Tây cho Nguyễn Chính. Hoàng Tá Viêm cho Sơn Tây là trọng yếu, mất Sơn Tây là rúng động cả Bắc Kỳ.
Vua bảo rút ngay đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc và quân Hoàng Tá Viêm cũng phải rút, có điều, không đùn đẩy cho Nguyễn Chính; nghĩa là không chăm vào giữ một thành Sơn Tây, mà phải ngầm giữ, cả Sơn Tây lẫn Hưng Hóa; ngầm giữ, tiến lui thật khéo, không phương hướng, không ai dòm ngó được, tức là chiến thuật hư binh; xem Pháp giở trò trống gì mà ứng phó.
Hoàng Tá Viêm chia quân Lưu Vĩnh Phúc đi các tỉnh. Lưu Vĩnh Phúc xin về Bảo Thắng sửa soạn việc nhà... (!).
(sđd., tr. 128 – 130).
++ Thưởng cho quan quân Thuận An (Thừa Thiên).
(sđd., tr. 130).
++ Đem 20 cỗ súng về Trấn Hải (Thừa Thiên).
(sđd., tr. 130).
++ Tạ Hiện: chưởng vệ lãnh đề đốc Bắc Ninh.
(sđd., tr. 131).
+++ Tháng sáu âl..
++ Lính Pháp đốt nhà, giết người ở 2 xã tại Hưng Yên. Ta phải cấp tiền gạo cho dân bị hại.
(sđd., tr. 132).
++ “Đại Nam nhất thống chí” đã xong bản thảo.
(sđd., tr. 132 – 133).
++ Đặt 6 cỗ súng và luyện binh ở Tư Hiền (Thừa Thiên).
(sđd., tr. 133).
++ Phạm Thận Duật: Xin khắc in “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” đã duyệt. Vua cho Hải Dương khắc in (nhưng mãi đến triều Kiến Phúc mới thực sự được in).
(sđd., tr. 134).
++ Pháp xin đặt đồn ở Bạch Hạc (Sơn Tây). Không cho.
(sđd., tr. 136).
++ Hồ Đăng Phong: tả tham tri Bộ Binh.
(sđd., tr. 136).
++ Nguyễn Hữu Độ: tĩnh biên phó sứ. Vũ Nhự: quyền sung tuần phủ Hà Nội.
(sđd., tr. 137).
++ Hoàng Tá Viêm tâu xin chấn chỉnh việc quân ở Thanh, Nghệ, Tĩnh.
(sđd., tr. 137 – 138).
++ Tăng cường phòng thủ cửa Thuận An (Huế).
(sđd., tr. 138 – 139).
++ Trần Đình Túc xin nghỉ.
(sđd., tr. 140).
+++ Tháng bảy âl..
++ Quảng Trị bị bão. Bộ Hộ phải thúc giục 2, 3 lần mới có danh sách để chẩn cấp. Quan binh bị cách, lưu dụng.
(sđd., tr. 140).
++ Biển Bình Thuận có tiếng vang như súng, suốt ngày, vang suốt đến Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 140).
++ Xuất hiện thần đồng Nguyễn Văn Kỳ (sau Pháp bắt về nước).
(sđd., tr. 140).
++ Nghe Hà Nội thất thủ, quân Thanh ở Lưỡng Quảng và Vân Nam ra trấn sát biên giới. Tạ Kính Bưu (Vân Nam) lại đem trước 3 doanh sang Quán Ty (Hưng Hóa). Dân Bắc Kỳ xôn xao: Quân Thanh chiếm Bắc Kỳ để tự giữ! Vua Tự Đức sai đem thư của tổng đốc Quảng Đông đến các tỉnh Bắc Kỳ để đả thông tư tưởng. Nội dung như kế hoạch Nguyễn Văn Tường đã bàn trước đây với Đường Đình Canh. Vua Tự Đức lại ra lệnh dụ cho tùy nghi khoản tiếp quân Thanh.
Vua nước Thanh (Trung Hoa) đã có dụ cho quân Thanh về việc phòng giữ biên ải.
Trương Thụ Thanh (nay là tổng đốc Trực lệ) tâu với vua Thanh: Pháp âm mưu xâm lược Bắc Kỳ như chúng đã từng xâm lược Nam Kỳ của Đại Nam trước đây. Pháp tính kế buộc Đại Nam lập “hòa” ước mới. Sự quỷ quyệt của Pháp là lần này đánh thành Hà Nội rồi trao trả ngay. Chưa rõ thế nào, nhưng hẳn là mưu cũ…
Do đó, quân Thanh vẫn mượn tiếng đánh thổ phỉ ở Đại Nam mà thực chất mưu tiến lên, giành giữ Bắc Kỳ, khỏi lo Pháp lấn dần. Đại Nam nay khó lòng tự tính, Trung Hoa không nên bỏ lỡ việc (ý nguyên văn: Ý đồ xâm lược Bắc Kỳ của nhà Thanh!).
Vua Thanh: Cho 3 đạo quân thủy bộ tiến đóng chỗ hiểm yếu, chuẩn bị cứu viện cho Lưu Vĩnh Phúc ở Bảo Thắng (tỉnh Hưng Hóa); và cho rằng không nên chỉ làm kế đóng cửa tự giữ (tức là chiếm Bắc Kỳ để tự giữ thì tốt hơn!) .
Do đó, Pháp càng tăng cường quân đến Hưng Hóa, Sơn Tây, Bạch Hạc, Hoàng Tá Viêm điều Lưu Vĩnh Phúc về Thục Luyện, điều quân Thái Nguyên, Tuyên Quang về Sơn Tây. Vua Tự Đức: Xem quân Pháp và quân nhà Thanh động tĩnh thế nào, quân ta chỉ yên lặng đợi lệnh.
(sđd., tr. 141 – 143).
++ Lê Hữu Tá (thượng thư Bộ Công) chết.
(sđd., tr. 144).
++ Trần Đình Túc nhận dụ bỏ hàm khâm sai. Tự Đức cho là Pháp đã trả thành Hà Nội.
(sđd., tr. 144).
++ Thừa Thiên mưa to dai dẳng.
(sđd., tr. 144).
++ Phạm Thận Duật: Cơ mật viện đại thần (từ năm nào không rõ [*], đến đây được xác định chức danh).
(sđd., tr. 146).
---- (*) Vì cũng như những vị quan chống Pháp hàng đầu (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Hoàng Tá Viêm, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Đính), ông không có tiểu truyện riêng trong “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn! ----
+++ Tháng tám âl..
++ Sao sa, tiếng vang như sấm. Sao phướn: dưới đỏ, trên trắng (hạ tuần tháng 12 âl., mới lặn mất).
(sđd., tr. 146).
++ Đình tiệc Tiết Vạn thọ.
(sđd., tr. 146).
++ Ông Ích Khiêm: hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Hộ.
(sđd., tr. 146).
++ Hoàng tử Ưng Đăng ra ở nhà Dưỡng Thiện.
(sđd., tr. 147).
+++ Tháng chín âl..
++ Quan tỉnh Nam Định (Vũ Trọng Bình, Đồng Sĩ Vịnh, Hồ Bá Ôn, Lê Văn Điếm) mộ quân Thanh, tiền thuê đánh quá mức, bị giáng, lưu dụng, bồi thường.
(sđd., tr. 147).
++ Dời Viện Cơ mật đến phòng Thượng Bảo (Nội các), ở bên trái Tả vu (trước đóng bên hữu); làm thêm nhà vuông để quan Cơ mật viện – Thương bạc ngồi bàn, trực đêm.
(sđd., tr. 148).
++ Bắc Kỳ được phép cất trữ tiền gạo.
(sđd., tr. 149).
++ Phủ Ứng Hòa có 2 tên Tư So, Lý Hòa nổi lên làm loạn (đốt phá, thả tù, cướp ấn phủ); quan phủ không chống đánh. Nguyễn Chính, Bùi Ân Niên tìm bắt.
(sđd., tr. 149).
(xem tiếp phần sau của tiểu mục này; vụ việc này còn diễn biến).
++ Tha thuế các xã ở Tuyên Quang…
(sđd., tr. 150).
++ Cho lãnh trưng mỏ than Nông Sơn (Quảng Nam).
(sđd., tr. 150).
++ Quan nhà Thanh Hoàng Quế Lan thống lãnh 12 doanh đóng ở Lạng Sơn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Thái Nguyên; Triệu Ốc thống lãnh 5 doanh, đóng ở Tuyên Quang, Thái Nguyên.
(sđd., tr. 150).
++ Tự Đức dụ: Trách một số quan không hiểu nghĩa lớn, lười nhác thành ra thoái thác, trốn về quê, tìm chỗ lánh việc…; và đồng thời xuống dụ bổ dụng người theo lệ rộng.
(sđd., tr. 151).
+++ Tháng mười âl..
++ Tự Đức dụ quan lại, sĩ nhân, hào mục Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 153 – 155).
++ Trần Đình Túc lại về hưu. Nguyễn Hữu Độ: đổi bổ hộ tổng đốc Hà – Ninh. Nguyễn Hữu Độ xin từ chối, sợ Pháp kìm chế hoặc ngờ vực (*). Không cho.
(sđd., tr. 155).
---- (*) Xem tiếp sẽ rõ thực chất của Nguyễn Hữu Độ. ----
++ Nhóm Nguyễn Thông và Pháp khám xét địa giới Bình Thuận – Biên Hòa.
(sđd., tr. 155).
++ Tha thuế cho 7 châu thuộc đạo Tân Hóa (vốn là thượng du tỉnh Hưng Hóa).
(sđd., tr. 156).
++ Lệnh không được bẩm báo với quan Thanh.
(sđd., tr. 156 – 157).
++ Tặng quan Anh ở Hương Cảng một số phẩm vật (vì đã giúp ta trị tội bọn làm tiền giả).
(sđd., tr. 157).
++ Hộ bộ biện lí Ông Ích Khiêm tâu về việc khai mỏ, khai thác lâm thổ sản, mở cục đúc tiền, đặt trường diễn võ, chọn quân khỏe.
(sđd., tr. 157 – 158).
+++ Tháng mười một âl..
++ Bêu đầu tướng phỉ Lục Chi Bình.
(sđd., tr. 157).
++ Sinh nhật Trần Tiễn Thành, Vũ Trọng Bình (70 tuổi).
(sđd., tr. 158 – 159, tr. 159 – 160).
+++ Tháng mười một âl..
++ Cho Trần Hữu Viết đi học bắn súng ở Trung Hoa về.
(sđd., tr. 160).
(xem lại: sđd., tr. 23).
++ Từ khi Hà Nội thất thủ, ta đưa thư cho tổng đốc Quảng Đông Dụ Khoan, Tăng Quốc Thuyên. Nay Đường Đình Canh và một số quan Thanh đến nước ta dò xét (trong đó có tiến sĩ Đường Cảnh Tùng). Nhóm Đường Cảnh Tùng nói: Chưa thể dùng vũ trang vì chưa thừa sức, chỉ nên đấu tranh bằng lí lẽ. Do đó, Nguyễn Thuật được phái sang, nhờ tổng đốc Quảng Đông đưa thư lên vua Thanh. Triều đình lại được điện tín của Lý Hồng Chương; Phạm Thận Duật do đó cũng được lệnh đem quốc thư đi đến Thiên Tân. Nguyên Lý Hồng Chương được tin Hà Nội thất thủ, đã thương thuyết với công sứ Pháp Bảo Hải (Bourrée). Bảo Hải (Bourrée) thuận ý, gửi thư về Pháp. Vì thế Lý Hồng Chương mới điện tín sang, và Phạm Thận Duật đi Thiên Tân (đi đường 2 tháng mới đến).
(ĐNTL.CB. lại lược thuật luôn về diễn biến việc vận động ngoại giao này. Rằng chính phủ Pháp không chịu điều đình, vin vào điều 2 “hòa” ước Giáp tuất 1874: “Đại Nam tự chủ, không thần phục nước nào” . Chính phủ Pháp rút Bảo Hải (Bourrée) về nước, đưa Đức Lý Cố (Tricou) sang thay. Rồi ở Hà Nội sau đó lại xảy ra vụ Lưu Vĩnh Phúc giết Lý Ba Lợi (Henry Rivière), nên không thể đấu tranh lí luận được nữa. Lý Hồng Chương đã gửi văn thư cho Tăng Kỷ Trạch ở Anh vận động công luận các nước Anh, Nga, Phổ (Đức) như Nguyễn Văn Tường đã bàn với Đường Đình Canh năm trước. Vẫn không có nước nào trả lời! Đến tháng 8 âl., Quý mùi (1883), ““hòa” ước mới của Lãng Quốc Công [Hiệp Hòa]” (nguyên văn) lại có khoản “nước Thanh không dự việc nước ta” (nguyên văn), nên Trung Hoa trút trách nhiệm… Ngay cả việc Nguyễn [Thượng] Phiên đóng ở Quảng Đông, tổng đốc Quảng Đông cũng sợ Pháp giận! Nguyễn [Thượng] Phiên nhiều lần xin vào gặp, tổng đốc Quảng Đông đều thác bệnh, từ chối!).
(sđd., tr. 161 – 162).
Diễn biến trên là từ tháng 12 âl., Nhâm ngọ, Tự Đức năm thứ 35 (1882), đến tháng giêng âl., Giáp thân, Kiến Phúc năm thứ 1 (1884), lúc Phạm Thận Duật về đến Huế.
++ Quảng Nam đói. Tha và miễn thuế, tiền vay.
(sđd., tr. 162).
++ Quảng Trị gạo đắt. Trích thóc kho, giảm giá bán ra cho dân.
(sđd., tr. 162).
++ Đường Đình Canh (Cục Chiêu thương, Trung Hoa) xin đóng tàu nhỏ, vào các sông 7 tỉnh Bắc Kỳ chở lương thực. Không cho.
(sđd., tr. 163).
++ Án sát Bắc Ninh Tôn Thất Loan xin thôi đắp đê Văn Giang (đã vỡ đê quá nhiều lần). Vua cho tạm hoãn vài năm, xem sao.
(sđd., tr. 163).
++ Bắt được bọn nổi loạn ở Ứng Hòa (Hà Nội).
(sđd., tr. 163).
++ Ở Nam Định, Hưng Yên, có tàu Pháp đi lại.
(sđd., tr. 163).
++ Bùi Ân Niên dâng sớ: Lập các đội quân lấy danh nghĩa bắt cướp, thực ra là ngầm tiếp ứng nhau để đánh Pháp.
(sđd., tr. 163 – 164).
++ Lệnh dụ về việc bí mật phòng thủ, vì đã 3 mùa mà Pháp chưa chịu rút quân, nên khó tin ở lời chúng; chú ý trấn áp bọn Hán gian, bọn bất lương để Pháp mất hậu thuẫn.
(sđd., tr. 164).
++ Sao chổi mọc.
(sđd., tr. 165).
++ Tự Đức giáng hoàng quý phi Vũ thị (:họ Vũ) xuống trung phi. Tự Đức ốm nặng từ một vài tháng gần đây.
(sđd., tr. 165 – 166).

40) Tự Đức năm thứ 36, Quý mùi (1883): 60 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Tướng Pháp ở Gia Định Lê My (Le Myre de Vilers) về nước, Tam Sung (Thomson) sang thay.
(ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 167).
++ Hà Nội xin đắp đê mới và đào sông để bớt thế nước lũ.
(sđd., tr. 168).
++ Hoàng tử trưởng Ưng Chân: Thụy quốc công; hoàng tử thứ hai Ưng Kỷ: Kiên Giang quận công.
(sđd., tr. 168 – 169).
++ Cấm giết trâu, cấm nấu rượu (định lại lệ đã có).
(sđd., tr. 169 – 170).
++ Bộ Hộ cần bàn với Cục Chiêu thương (Trung Hoa): Chở thóc thay gạo để tồn trữ lâu hơn.
(sđd., tr. 170).
++ Giáng Đoàn Văn Hội: tả tham tri Bộ Lễ.
(sđd., tr. 170).
++ Quảng Trị: dân đói. Giáng Phan Sĩ Thục, Nguyễn Tăng Dược. Đinh Nho Quang: tuần phủ Trị – Bình.
(sđd., tr. 170).
++ Tàu chở gạo của Cục Chiêu thương (Trung Hoa) bị mắc cạn, hỏng. Cấp tuất hậu.
(sđd., tr. 170).
++ Tự Đức nhọc, ốm.
(sđd., tr. 170).
++ Nam Định mộ thuê thêm quân Thanh.
(sđd., tr. 171).
++ Nguyễn Thuật đi sứ về, tâu trình tình hình biên giới: Kẻ gian, phỉ và quân Thanh dỗ mua, bắt người về nước.
(sđd., tr. 171).
++ Tạ Hiện về kinh đô Huế, nay là quyền quản doanh Hùng Nhuệ. Trước đây, quan tỉnh Bắc Ninh nghi ngờ Tạ Hiện vì ông có vợ là dân Thiên Chúa giáo. Bộ Binh của Tôn Thất Thuyết thanh minh cho Tạ Hiện.
(sđd., tr. 171 – 172).
++ Phái viên Pháp đến động Từ Thức (Thanh Hóa). Lệnh ngăn lại.
(sđd., tr. 172).
++ Tàu binh Pháp đến thêm. Quân Thanh chỉ mới sang 3 doanh. Trương Quang Đản dâng sớ: Xin dụ cho Hoàng Tá Viêm điều động Lưu Vĩnh Phúc về Sơn Tây; Lương Tuấn Tú về giáp ranh Bắc Ninh – Thái Nguyên; Nguyễn Chính chỉ đạo quân Nam Định, Ninh Bình; Bùi Ân Niên hợp sức với Hải Dương; và kỉ luật thật nghiêm. Vua đồng ý với kế họach ấy. Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên lại tâu: Bắc Ninh gần Đồn thủy Hà Nội của Pháp; xin bàn với tướng Thanh Hoàng Quế Lan đưa quân về; Lương Quy Chính, Nguyễn Cao, Trần Xuân Soạn cũng dồn quân về Bắc Ninh. Vua lệnh cho Bùi Ân Niên chọn nơi đóng ở Hải Dương.
(sđd., tr. 172 – 173).
++ Một số dân hạt Hải Dương bị xử án về tội truyền đọc ngụy thư, trong đó có con trai Cao Bá Đạt (tức là cháu của Cao Bá Quát).
(sđd., tr. 173).
+++ Tháng hai âl..
++ Quan Hà Nội, một nửa đi đóng chỗ khác, vì ở nội thành Pháp chưa rút, đang khống chế.
(sđd., tr. 173 – 174).
++ Đóng cửa Ti Thuế quan ở sông Trà Lý.
(sđd., tr. 174).
++ Tổng đốc Định – yên Vũ Trọng Bình tâu: Pháp tăng cường quân ở Hải Dương, Hà Nội.
(sđd., tr. 174).
++ Cửa Thuận An (Huế) ngày càng bồi nông tự nhiên. Vua bảo Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường): Thế là may mắn; nhưng lại âu lo về việc vận tải; nhắc nhở phải tính trước về lương thực. Trước đây, quan Bộ Hộ định bán bớt gạo kho cho dân, nay đình lại.
(sđd., tr. 174).
++ Bùi Ân Niên chiêu mộ thủ dũng.
(sđd., tr. 175).
++ Thự lí thông thương đại thần Lý Hồng Chương đã điện tín đưa người sang để hỏi bàn về tình hình đối phó với Pháp, nay lại gửi thư tiếp. Vua bảo viết quốc thư gửi Lý Hồng Chương: Đã sai Phạm Thận Duật, Nguyễn Thuật đi; Pháp lần này muốn thông sang Vân Nam (Trung Hoa) và buộc Đại Nam chịu bị “bảo hộ”; mong Trung Hoa tìm cách giúp.
(sđd., tr. 175).
++ Lệnh cho Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình chặn đường nhỏ, lấp sông nhỏ.
(sđd., tr. 175 – 176).
++ Ngày 18 tháng 2 âl., Quý mùi (1883), Pháp tấn công thành Nam Định. Giặc Pháp bắn suốt đêm ngày vẫn không hạ được thành. Ngày 19 âl., Pháp chạy tàu thủy trên sông Vị Hoàng, bắn vào thành. Trong khi đó, bộ binh Pháp sấn vào cửa đông. Vũ Trọng Bình, Đồng Sĩ Vịnh ở trong thành. Lê Văn Điếm, Hồ Bá Ôn ra ngoài thành chiến đấu, từ giờ mão (5 – 7 giờ sáng) đến giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa). Nguyễn Chính hèn nhát, tuy đóng ở Đặng Xá (Mỹ Lộc), gần đó, vẫn không đến cứu viện. Thành Nam Định mất sau khi Lê Văn Điếm chết trận, Hồ Bá Ôn bị thương, quân vỡ.
(sđd., tr. 176).
++ Bùi Ân Niên, Trương Quang Đản ở Bắc Ninh dàn quân dọc bờ sông, định đánh hạ Đồn thủy Pháp tại Hà Nội, và đã đem quân cứu Nam Định, nhưng quân chưa tới, thành Nam đã mất. Vua bảo: Dập tắt ngay, nếu chúng dụng đến Bắc Ninh; chớ để chúng đắc chí.
(sđd., tr. 176 – 177).
++ Khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) hạ cờ, về nước.
(sđd., tr. 177).
++ Tàu binh Pháp đến Quảng Yên; lính Pháp lên núi làm nhà, dựng cờ. Dụ: Thông tư cho quan tỉnh, bảo lãnh sự Pháp nói tàu ấy rút ngay, kẻo trái “hòa” ước.
(sđd., tr. 177).
++ Các đồn Lộ Châu, Triều Sơn ở cửa Thuận (Huế) được tăng cường biền binh.
(sđd., tr. 177).
++ Miễn thuế gạo nhập cho Quảng Nam, Quảng Ngãi.
(sđd., tr. 177).
++ Tăng tiền gạo cho lính trạm (giao liên…).
(sđd., tr. 177).
++ Tha lính và hoãn mộ lính cho huyện Sơn Dương (Sơn Tây).
(sđd., tr. 178).
++ Cơ mật viện – Thương bạc tâu: Nguyễn Chính và Hoàng Tá Viêm nên tùy cơ lấy lại thành Nam Định; nghiêm sức cho thân sĩ đoàn kết xã dân; binh dân cùng canh giữ để cô lập quân Pháp trong thành; không được để Pháp lấn xuống; như thế mới có thể mưu tính lấy lại thành. Vua trách: Đã trễ mất thời cơ; lẽ ra phải đánh chiếm lại ngay, lúc sĩ khí dâng cao; nay sĩ khí đã ngày càng tiêu mất, Pháp lại lan tràn, khó đánh. Lệnh cho Nguyễn Chính phải lấy lại ngay thành Nam Định để chuộc lỗi trước (không ứng cứu, bị giáng 4 cấp).
(sđd., tr. 178).
++ 500 lính kinh đô (chủ lực) tiến ra Thanh Hóa.
(sđd., tr. 178).
++ Cấp thêm lương tháng cho lính kinh (chủ lực).
(sđd., tr. 178 – 179).
++300 quân Thanh Hóa đóng giữ tại núi Tam Điệp, ở 2 đồn Nhân Sơn, Chính Đại.
(sđd., tr. 179).
++ Lấp đường sông để khỏi chia quân.
(sđd., tr. 179).
++ Tạ Hiện nghe tin mất Nam Định, xin về ngay để chiếm lại thành; được đổi lãnh đề đốc Nam Định.
(sđd., tr. 179).
++ Ngày 19 tháng 02 âl., Quý mùi (1883), Trương Quang Đản và Bùi Ân Niên phối hợp với quân thứ đẩy lùi quân Pháp (Pháp khiêu chiến, tấn công Gia Lâm). Pháp lùi về giữ phố Dốc Gạch. Ngày 20 âl., Pháp lại tấn công. Binh dõng, quân thứ Bắc Ninh nấp bắn, lại đẩy lùi quân Pháp. Chiều 20 âl., giờ mùi (13 – 15 giờ chiều), Pháp tiến lên đê. Ta đánh một trận giáp lá cà với Pháp thật dữ dội. Trận này, phó đề đốc Trần Xuân Soạn bị thương nhẹ. Các đạo quân của Trương Quang Đản, Lương Quy Chính, Bùi Ân Niên, Nguyễn Cao, Hồ Văn Phấn đều tiếp nhau đến ứng cứu. Pháp không địch nổi, rút chạy về Đồn thủy Hà Nội.
Vua khen quân ta đã 3 lần giao chiến dũng cảm, thăng thưởng cho binh, tướng. Hoàng Tá Viêm bị khiển trách, cho cách chức, lưu dụng. Lại dụ cho Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình chặn đường sông (đóng cọc, đánh đắm thuyền); Sơn Tây cũng cần hợp lực đánh Pháp và cố đánh cho được.
(sđd., tr. 180 – 182).
+++ Tháng ba âl..
++ Rút biền binh ở các sở thợ để huấn luyện; đặt súng ở phía đông bắc kinh thành.
(sđd., tr. 182).
++ Sắc dụ cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính: Khiển trách hai đại thần thống lãnh mặt trận (Hoàng Tá Viêm, thống đốc; Nguyễn Chính, kinh lược sứ Bắc Kỳ), rằng chỉ thấy hô hào suông (Hoàng Tá Viêm: “Vạn phần đánh được cả” ; Nguyễn Chính: “Khiến cho giặc không dám trông thẳng” ); khuyên Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính phải tính kế, đánh “để hả lòng công phẫn, [cho] lừng lẫy uy thanh của nước” (nguyên văn).
(sđd., tr. 182 – 183).
++ Thân sĩ Quảng Trị mật tâu xin đánh dẹp giặc Pháp. Vua bảo: Để triều đình tính liệu.
(sđd., tr. 183).
++ Đặt thêm 50 khẩu súng (đại bác, quá sơn) ở trước và sau đồn Lộ Châu (cửa Thuận An, tại Thừa Thiên).
(sđd., tr. 183).
++ Cấp dưỡng thân nhân của binh dõng chết trận.
(sđd., tr. 184).
++ Thống đốc Hoàng Tá Viêm tâu: Mộ được ba vạn (30.000) quân, trong đó có 3.400 quân đã luyện tập giỏi. Vua: Cần chọn quân mạnh khỏe và giỏi chiến đấu; quân nhiều mà không tinh nhuệ càng thêm vô ích.
(sđd., tr. 184).
++ Nguyễn Chính phải xét rõ về vụ thất thủ Nam Định, tâu về triều. Và Nguyễn Chính bị giáng xuống quang lộc tự khanh, sung tán lí. Hoàng Tá Viêm cũng bị giáng xuống tổng đốc… và một loạt quan tỉnh đều bị giáng, phạt… Tự Đức biểu dương các quan lính đã anh dũng chiến đấu, hi sinh. Và lại ra dụ: lập các quan tỉnh mới, chọn nơi đóng trụ sở để làm việc (vì thành đã mất).
(sđd., tr. 184 – 185).
++ Bùi Ân Niên xin độc lập chiến đấu, phối hợp với Trương Quang Đản (vì bất đồng ý kiến với Hoàng Tá Viêm), hoặc xin về kinh chịu tội. Hoàng Tá Viêm cũng tâu xin rút Bùi Ân Niên về triều, vì cho rằng Bùi Ân Niên rất am hiểu việc quân; và nên giao quân lại cho Hoàng Tá Viêm thống lĩnh. [Thật ra, đó chỉ là lời nói khéo, do không hợp nhau trong cách cầm quân, đánh trận?]. Bùi Ân Niên dâng sớ phê phán Hoàng Tá Viêm, đến mức chỉ trích gay gắt (điều quân khiển tướng vụng; rút quân, tiện cho mình, để hại cho người; chỉ nghe lời Lưu Vĩnh Phúc; ganh công…). Cuối cùng, Bùi Ân Niên vẫn sung tham tán, phối hợp với Trương Quang Đản như cũ. Nguyễn Chính sung làm tán lí, coi đạo quân khác. Tất cả đều vẫn thuộc quyền thống lĩnh của Hoàng Tá Viêm.
(sđd., tr. 185 – 187).
++ Bố chính Quảng Tây (nước Thanh) Từ Diên Húc đưa quân sang địa đầu nước ta.
(sđd., tr. 187).
++ Thống lĩnh quân Thanh là Hoàng Quế Lan. Hoàng Quế Lan đưa quân đến đóng phủ Lạng Giang, chia phái các binh tướng trấn giữ các nơi. Quân thứ tỉnh Bắc Ninh đề nghị Hoàng Quế Lan đưa quân sang sông để đóng; Hoàng Quế Lan bảo chưa có công văn từ nước Thanh. Hoàng Quế Lan cũng đề nghị phía ta mộ nhiều quân người Hoa, lại đề nghị nên đưa quân ta đến đóng gần quân Thanh, để nếu Pháp tiến theo sông Nguyệt Đức, quân Thanh sẽ đổi áo quần đánh giúp. Còn mặt khác, quân ta phải lo tính lấy (phía Từ Sơn, Gia Lâm). Vua bảo: Nước Thanh ngại gây hiềm khích, “rốt cuộc, việc ta, ta phải làm là chính”, “chớ chỉ có trông cậy vào người”
(sđd., tr. 187 – 188).
---- (*) Xem lại: Nhờ Pháp thử nghiệm quặng và than mỏ. Tự Đức bảo quan Cơ mật viện – Thương bạc: “Mọi việc mượn [nhờ] người [Pháp], tóm lại như giấc mơ mộng, không có kì nào được nên việc” (nguyên văn); phải tự trù tính làm việc. (Xem lại: ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 6). ----
++ Phê phán linh mục Trần Lục (Ninh Bình) nịnh hót quân Pháp (xúi giục bãi bỏ tuần ti, khám xét cửa sông ở Thanh Hóa, Ninh Bình).
(sđd., tr. 188).
++ Cho dân huyện, đạo Tân Hóa (vốn là thượng du tỉnh Hưng Hóa) vay tiền.
(sđd., tr. 188).
++ Nâng giá cước cho chủ thuyền vận tải.
(sđd., tr. 188 – 189).
++ Hồ Bá Ôn bị trương trước đây, khi chiến đấu ở thành Nam Định, đến nay chết. Vua khen dũng cảm, truy tặng.
(sđd., tr. 189).
++ Gạo hơi thiếu. Bộ Hộ xin chiểu giá cấp tiền lương thay gạo lương.
(sđd., tr. 189 – 190).
++ Lệnh cho các loại thuyền chở gạo, gỗ, đá… ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh về kinh.
(sđd., tr. 190).
++ Hoàng Tá Viêm tâu: Đường Cảnh Tùng (người cùng làng với Lưu Vĩnh Phúc) có lòng nghĩa phẫn, bàn luận việc quân rất có lí; xin thông tư cho tổng đốc Quảng Đông để giữ Đường Cảnh Tùng ở lại hợp sức với Hoàng Tá Viêm.
(sđd., tr. 190).
+++ Tháng tư âl..
++ Tướng phỉ Bắc Ninh (Khỏa, Câu) bị chém chết.
(sđd., tr. 190).
++ Tha tù Hưng Hóa, cho sung quân.
(sđd., tr. 191).
++ Cơ mật viện tâu: Quan võ xung trận, quan văn trù tính, điều khiển (phản bác quan điểm của khâm phái Gia Định Nguyễn Lập là chỉ dùng quan võ đánh trận…).
(sđd., tr. 191).
Cơ mật viện ở thời điểm này: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. [Phạm Thận Duật đã đi Thiên Tân [Trung Hoa]).
Lúc này, sự phân hóa chính kiến (chủ hòa [Trần Tiễn Thành] và chủ chiến [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] đã rất rõ rệt).
Xin lưu ý thêm: Quốc sử quán không ghi chép nhiều và cụ thể về vai trò của từng đại thần Cơ mật viện một. Ngay cả Tôn Thất Thuyết, với chức năng thượng thư Bộ Binh, trong thời điểm chiến tranh đã nổ ra ở Bắc Kỳ này, lẽ ra ông phải nổi bật, thế nhưng tên họ Tôn Thất Thuyết cũng rất mờ nhạt. Và cả Nguyễn Văn Tường cũng thế. Và nói chung, vai trò của nhóm chủ chiến chỉ thật sự nổi bật (có tính quyết định) ở giai đoạn 1883 – 1885.

++ Vi Ê (Lý Ba Lợi, Henry Rivière) có hành vi ngang ngược (bán gạo kho Cục Chiêu thương ở Hải Dương; thu thuế các loại…).
(sđd., tr. 191).
++ Quân ở tàu binh Pháp đuổi nhân viên thu thuế tại Mễ Sở (Hưng Yên).
(sđd., tr. 192).
++ Nha Hải phòng kinh kì tâu: Xin cắm hàng rào gỗ và lấp sọt đá ở cửa Lộ Châu (Thuận An, Huế). Vua y cho.
(sđd., tr. 192).
++ Hoàng Tá Viêm điều động quân thứ Sơn Tây và đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc về đóng tại Hoài Đức (Hà Nội). Sau đó, lệnh cho Lưu Vĩnh Phúc ra khiêu chiến. Quân Pháp không ra giáp trận, định kế đánh úp nơi đóng quân của quân ta và quân Lưu Vĩnh Phúc. Hoàng Tá Viêm nghe tin quân Pháp kéo tới vào lúc sáng sớm ngày 13 tháng 4 âl. (Quý mùi [1883]), nên ngay lập tức, Lưu Vĩnh Phúc được lệnh mai phục. Khi giặc Pháp đến Cầu Giấy, đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc vùng dậy đánh quyết liệt. Cánh quân tả: Dương Trứ Ân chết trận. Cánh quân hữu: Ngô Phượng Điển bị thương. Đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc hơi lùi. Trước tình huống ấy, Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Thủ Trung xông vào trận đạn, quyết đánh. Quân Pháp thua, bỏ chạy. Quân Lưu Vĩnh Phúc đuổi theo, chém chết Vi Ê (Lý Ba Lợi, Henry Rivière) và 2 sĩ quan Pháp. Ngoài ra, quân Pháp còn chết 20 tên lính, bị thương nặng 60 tên và bị thương nhẹ rất nhiều.
Vua Tự Đức và triều thần rất mừng.
Lưu Vĩnh Phúc: thăng đề đốc (nhị phẩm); Hoàng Thủ Trung: thăng tuyên úy sứ (tòng tứ phẩm), lãnh chức lãnh binh quan; Ngô Phương Điển: thăng phó tuyên úy sứ (tònh lục phẩm), lãnh chức phó lãnh binh quan… Hoàng Tá Viêm: khai phục nguyên hàm. Dương Trứ Ân: truy tặng phó lãnh binh quan…
Lãnh sự Pháp đưa thư xin nhận xác Vi Ê (Lý Ba Lợi, Henry Rivière) và 2 sĩ quan Pháp. Không cho. Quân thứ Sơn Tây tạm chôn xác giặc, đợi xét.
(sđd., tr. 192 – 194).
++ Phát chẩn cho dân đói kém tại Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình.
(sđd., tr. 194).
++ Biết được quân thứ Sơn Tây và quân Lưu Vĩnh Phúc chuyển xuống phố Hà Nội, quân thứ Bắc Ninh (do Bùi Ân Niên, Trương Quang Đản quản lãnh) cũng hội lại, cùng đánh giặc Pháp. Súng lớn đặt trên đê sông Nhị Hà, bắn suốt mấy ngày. Thuyền binh Pháp bị tổn thương. Quân thứ Sơn Tây rút. Quân thứ Bắc Ninh cũng rút. Tự Đức lại động viên, khích lệ tấn công.
(sđd., tr. 194).
++ Bố chính Quảng Tây Từ Diên Húc sang nước ta. Bùi Ân Niên đến gặp. Từ Diên Húc nói: Lần này sang, quyết giúp Đại Nam, nhưng kẹt khoản 2 “hòa” ước Giáp tuất 1874, đành phải giúp ngầm; “nếu quả là cùng xâm phạm [cả Pháp lẫn Hoa đều vi phạm “hòa” ước Giáp tuất 1874] thì tất phải chiến tranh”. Trung Hoa đã giúp cho Lưu Vĩnh Phúc súng ống. Vua sai Bộ Binh viết thư hỏi thăm, động viên.
(sđd., tr. 195).
++ Trần Đình Túc, đã về hưu, thấy việc quân nhu khẩn cấp, xin từ chối nửa lương suốt đời.
(sđd., tr. 195).
++ Nguyễn Lập ở Gia Định về quê chữa bệnh vì ốm; Nguyễn Thành Ý thay.
(sđd., tr. 195).
++ Người Khách (Hoa kiều) mạo làm phái viên Tây dương. Y liền bị lệnh chém.
(sđd., tr. 195).
++ Pháp đã thua, sai người về Gia Định cứu viện. Nguyễn Thành Ý tâu về Huế. Vua dụ: Phải đánh ngay để lấy lại 2 tỉnh Hà Nội, Nam Định; “vả lại, thế cưỡi hổ đã thành; ta không tính (đánh) chúng, chúng cũng tính (đánh) ta; tính (đánh) trước thì thắng; nên cùng lòng hợp sức tính (đánh) ngay” (nguyên văn). Và thông tư cho Phạm Thận Duật ở Thiên Tân (Trung Hoa), Nguyễn [Thượng] Phiên ở Quảng Đông (Trung Hoa), báo với Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Thuyên, phối hợp đánh ngay, để khỏi sinh khó khăn.
(sđd., tr. 197).
++ Giảm thuế cho các nơi mất mùa.
(sđd., tr. 197).
+++ Tháng sáu âl..
++ Thuyền buôn, vì triều đình sợ giúp lương cho giặc, nên có lệnh cấm ra Nam Định.
(sđd., tr. 197).
++ Tàu binh Pháp qua sông Hát đến sông Nhật Chiểu (Sơn Tây), bị quan quân huyện Phúc Thọ chặn bắn (chết 1 lính Pháp). Tàu Pháp rút ngay.
(sđd., tr. 197 – 198).
++ Cấm nhân dân Bắc Kỳ không được bán gạo, chở thuê cho khách buôn ra nước ngoài. Gần đây, Pháp tự tiện thu thuế, cho xuất cảng gạo nhiều. Phải cấm dân, vì sợ dân đói.
(sđd., tr. 198).
++ Pháp trục xuất Nguyễn Thành Ý về kinh đô Huế (cùng với phó lãnh sự Trần Doãn Khanh). Nguyễn Thành Ý: thự hữu tham tri Bộ Binh.
(sđd., tr. 198).
++ Lê Liêm: tuần phủ Thuận – Khánh.
(sđd., tr. 198).

G. CHƯƠNG BẢY

XVII. THỜI LÀM ĐỒNG PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN, VẪN ĐẢM NHIỆM VÀ KIÊM QUẢN CÁC CHỨC VỤ CŨ: THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN CỤC THUYỀN CHÍNH (HÀM & TƯỚC: THÁI TỬ THÁI PHÓ, THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ BÁ)


++ Tư Đức làm sẵn di chiếu và di chúc (*). Ngày 14 tháng 6 âl., Quý mùi (1883), Tự Đức triệu 3 Cơ mật viện đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào cùng chứng kiến chính tay nhà vua phê vào tờ di chiếu: Ưng Chân nối ngôi; Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm phụ chính và đồng phụ chính đại thần; Hoàng Tá Viêm: trấn Bắc đại tướng quân (lo việc bình Tây, định Bắc)…
(sđd., tr. 198 – 202).
---- (*) Xin xem toàn văn di chiếu và di chúc của Tự Đức trong ĐNTL.CB., tập 35, sđd., số trang đã ghi trên. ----
++ Ngày 16 tháng 6 âl., Tự Đức mất vào giờ thìn (7 – 8 giờ sáng), tại điện chính Kiền [:Càn] Thành. Di chiếu được mở ở điện Cần Chính, trước bá quan. Ưng Chân khóc lạy, nhận mệnh vào điện Hoàng Phúc cư tang. Ngay sau đó, Ưng Chân lên ngôi, lấy niên hiệu là Dục Đức; nhưng làm vua chỉ được 3 ngày, liền bị truất phế (*).
(sđd., tr. 202).
---- (*) Ưng Chân (Dục Đức) bị truất phế vì có chính kiến thân Pháp, thân tả đạo Thiên Chúa giáo và vì bản thân vi phạm những quy chế về cung cấm [cho “người lạ” vào ra], vi phạm những điển lệ về tang khó…). ----



Hết CHƯƠNG SÁU (phần 2 / trọn chương)
Xin xem tiếp CHƯƠNG BẢY
ở tệp 7
:

http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/


Xếp chữ xong phần 2 chương sáu (trọn chương), vào lúc 16 giờ 45 phút,
ngày thứ năm (thứ sáu cũ), 10-02 HB6 ( 2006 )
[13 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.


Trần Xuân An.

GHI CHÚ VỀ TÁC GIẢ

TRẦN XUÂN AN

(có bài kí bút danh: Trần Ngôn Sử)

Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;
Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);
Quê gốc: Quảng Trị;
Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978);
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;
Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu
(Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.).

1971, cùng bạn bè chủ trương tập san Đất Vàng, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), với bút hiệu Huyên Đình (Người Mẹ).
1973, “Tiếng chuông xưa” , bài thơ lãng mạn đầu tiên in trên Tuổi Ngọc.
1975, được tặng thưởng “Một trong mười bài thơ hay nhất trong năm” của báo Văn nghệ Giải phóng.
1991, giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị.

DANH MỤC
TÁC PHẨM, SOẠN PHẨM, BIÊN KHẢO
CỦA TÁC GIẢ
(tính đến 1-2006)

Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam:

1. Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
2. Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
3. Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
4. Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
5. Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
6. Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/
9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
10. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM.
http://www.giaodiem.com tháng 11-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/ & … 2a … 2b … 2c …
12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:

13. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba).
Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com tháng 6-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
14. Thơ những mùa hương, thơ.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 10-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm

Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo:

17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003.
http://www.giaodiem.com tháng 8-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
Blogger tháng 2-2006
http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/
http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/
19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003. Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm

Địa chỉ:
71B Phạm Văn Hai,
Phường 3, quận Tân Bình
(cửa hiệu PHAN HUYÊN)
TP. HCM.
ĐT.: 08.8453955
& 0908 803 908
Email: tranxuanan_vn@yahoo.com


TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI TRUY CẬP
CÁC ĐỊA CHỈ WEBs / BLOGs
(bấm vào các đường LINKs sau đây):

I. THƠ : _________________________
________________________________________________

http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
http://tranxuananthitap9.blogspot.com/

II. TIỂU THUYẾT : _________________
________________________________________________

http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/

III. PHÊ BÌNH – TIỂU LUẬN : ________
________________________________________________

http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

IV. TRUYỆN – SỬ KÍ –
KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ :
____________
________________________________________________

http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2c.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/

http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/
http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/


V. TRANG PHỤ : PHẢN HỒI : ĐỒNG CẢM – TRAO ĐỔI – LÀM RÕ & ĐÍNH CHÍNH _____________
_________________________________________

http://tranxuanan-trphu.blogspot.com/
http://tranxuananp-trphu.blogspot.com/


HOẶC CÓ THỂ BẤM VÀO DÒNG CHỮ
VIEW MY COMPLETE PROFILE
Ở BẢNG ABOUT ME
[ có thể xem như trang chủ { # homepage # } ] –
http://www.blogger.com/profile/14904482
– ĐỂ TỪ CÁC ĐƯỜNG LINKs TẠI ĐÓ,
ĐỌC NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC CỦA TÁC GIẢ
TRÊN WEBs / BLOGGER.


NGOÀI RA, CÓ THỂ TRUY CẬP THÊM
CÁC TÁC PHẨM SÁNG TÁC, KHẢO LUẬN, BIÊN SOẠN
CỦA TÁC GIẢ
TRÊN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ GIAO ĐIỂM
(xin bấm vào các đường LINKs sau đây):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_index.htm

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/106_index.htm

__________________________________

Ngày thứ năm (thứ sáu cũ), 10-02 HB6 ( 2006 )
[ 13 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.


Trần Xuân An.

7.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KÌ VĨ PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 5)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)

(tiếp theo)
(Tệp 5)
(chương sáu / phần 1)


E. CHƯƠNG SÁU

XII. THỜI LÀM THƯỢNG THƯ BỘ HÌNH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC VỚI TƯỚC HIỆU KÌ VĨ BÁ, ĐỒNG KIÊM SUNG ĐẠI THẦN NHA THƯƠNG BẠC

+++ Tháng mười âl.
(tiếp theo).
++ Nguyễn Tư Giản: kiêm sung Nha Thương bạc. Nguyễn Tư Giản dâng sớ xin từ chối. Vua cho rằng, về khoa ngôn ngữ, Nguyễn Tư Giản hình như chưa giỏi bằng Nguyễn Văn Tường; Nguyễn Văn Tường vốn đã am hiểu, thông thạo (đi sứ, giao tiếp với Tây, với tướng nhà Thanh từ tháng 12 âl., Đinh mão [1867 --> "68 (*)] đến nay), do đó không lãnh chức ở Thương chính cũng lãnh chức của Thương bạc. Vua buộc Nguyễn Văn Tường phải nghe lệnh, Nguyễn Tư Giản cũng không được từ chối, vì cả hai đều muốn khước từ.
(sđd., tr. 126 – 127).
---- (*) Như đã chú thích phía trước, người biên soạn (Trần Xuân An) xin đề nghị quy ước: 1867 --> “68, có nghĩa là khoảng cuối năm 1867, đầu năm 1868. ----
+++ Tháng mười một âl..
++ Quan Thương bạc đưa thư cho tướng Pháp ở Gia Định, nhờ mua tàu thủy đánh giặc biển.
(sđd., tr. 127).
++ Phạm Phú Thứ về quê thăm, nay dẫn Ông Ích Khiêm cùng ra Huế, xin vua cho Ông Ích Khiêm ra Hải – Yên làm việc với Phạm Phú Thứ, vì Ông Ích Khiêm đã khỏi bệnh tâm hỏa…
(sđd., tr. 128 – 129).
++ Người Pháp cho rằng được tặng trâu, dê là bị khinh. Cơ mật viện – Thương bạc xin vua đổi tặng ngựa thổ ngơi.
(sđd., tr. 129).
++ Vua dụ về việc lập vua nối ngôi về sau cho ba hoàng tử được chọn, trong đó có câu: “bóng câu không lường được thì tất chỉ người hiền là cho [được kế vị], vì thiên hạ được người [hiền] là khó” “giao cho Sử quán làm án nhất định, sau có nịnh hót, mê hoặc mà thay đổi, thì thất cả thần tử của bản triều đều được đem pháp luật mà giết đi, để cho lẽ phải của nước được vững”.
(sđd., tr. 129 – 131).
++ Cơ mật viện – Thương bạc tâu: Bọn côn đồ Bắc Kỳ không thỏa chí ngầm đến Gia Định giả thác yêu cầu Pháp; cần phải đề phòng bọn chúng (kiểu dạng Pi E [Pierre] Tạ Văn Phụng…). Bộ Hình (*) của Nguyễn Văn Tường được lệnh nghị xử thật nặng Nguyễn Văn Phương, dẫu y chỉ trốn đất Bắc vào Nam, ở thời điểm Nam Kỳ đã do giặc Pháp cai trị.
(sđd., tr. 131 – 132).
---- (*) Từ đây, người biên soạn (Trần Xuân An) sẽ khảo sát Nguyễn Văn Tường, ngoài tên họ, còn ở ba cụm từ chỉ chức vụ: thượng thư Bộ Hình, Cơ mật viện đại thần, quản lí Thương bạc đại thần. Riêng “Cơ mật viện đại thần”, phải hiểu là một nhóm người (từ 3 đến 5 đại thần). Xin xem thêm “Lưu ý” ở tiểu mục phía dưới. ----
++ Tự Đức ra dụ hiểu thị sĩ dân Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 132 – 133).
++ Nguyễn Tư Giản kiêm sung đã nhiều chức trách, nên thôi việc ở Viện Cơ mật; Trần Bình sung Cơ mật viện đại thần.
(sđd., tr. 136).
Lưu ý: Viện Cơ mật và Thương bạc, gọi tắt là Viện – Bạc, bởi trong Cơ mật viện ở giai đoạn này, công tác đối ngoại, gồm ngoại giao và ngoại thương, đặc biệt được ưu tiên hàng đầu, cực kì quan trọng. Viện – Bạc chỉ đạo trực tiếp cho Nha Thương bạc
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc: Trần Tiễn Thành. Nguyễn Văn Tường, Lê Bá Thận, Trần Bình (tứ trụ).

++ Bộ Hình do Nguyễn Văn Tường đảm trách vận dụng luật để cứu xét một vụ án ở Quảng Nam, đưa ra mức án có giảm nhẹ hơn so với quan tỉnh, nhưng hơi nặng so với đình thần (quan tỉnh: lăng trì [: tùng xẻo cho đến khi chết hẳn]; Bộ Hình: chém ngay lập tức; đình thần: chém ngay lập tức nhưng cho cứu xét rồi thi hành án ngay). Vua trách Nguyễn Văn Tường chưa kịp nắm vững luật (mới nhậm chức).
(sđd., tr. 136 – 137).
++ Bộ Hình của Nguyễn Văn Tường tâu xin định lại lệ xử thêm bậc (mức phạt) trong khóa thanh tra, truy bồi do quan chức thi hành công vụ không được việc. Vua chuẩn theo đề nghị.
(sđd., tr. 137 – 138).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Trần Đình Túc, Nguyễn Tăng Doãn bị giáng cấp, phạt bổng, vì trái lệnh, cho tàu thủy Tây chở hàng của người buôn Trung Hoa, và cho phái viên Pháp 100 thước vuông ta đất để di táng An Nghiệp Ngạc Nhe ( Françis Garnier).
(sđd., tr. 140).
++ Phạm Phú Thứ tâu xin cho đoàn thuyền Đồ Phổ Nghĩa (Đô Phối, Jean Dupuis) chở hàng cho người Hoa buôn bán. Vua cho, bảo phải nộp thuế.
(sđd., tr. 140).
++ Vua bảo Viện Cơ mật định liệu về chỗ ở tại Bảo Thắng (Hưng Hóa) của Lưu Vĩnh Phúc, vì ngại Pháp thù hiềm y, lo y ngáng trở việc thông thương của chúng, sinh khích biến.
(sđd., tr. 141).
++ Tự Đức phân tích, đánh giá về lính Bắc Kỳ: Do thói tệ nên nhát; đề xuất biện pháp chấn chỉnh, chuyển thành quân tinh nhuệ như vốn đã thành truyền thống trong lịch sử.
(sđd., tr. 142 – 143).
++ Giảm bớt việc tu bổ chùa chiền (do Bộ Công đảm trách) trong điều kiện khó khăn chung.
(sđd., tr. 145).
++ Sứ bộ Phan Sĩ Thục vào báo cáo tình hình nước Trung Hoa nhà Thanh (Đại Thanh) hiện thời: tô giới, nhượng địa; được truyền bá Thiên Chúa giáo; mở cục kĩ nghệ; quân lính tập súng Tây; mức sống dân bị quẫn bách; quyên nộp (mua hàm bán chức) sinh thói tệ…
(sđd., tr. 146 – 147).
++ Tự Đức ra đạo dụ mở rộng đường ngôn luận, tâu nói để vua biết hết lòng dân.
(sđd., tr. 147 – 148).
++ Bộ Hình do Nguyễn Văn Tường đảm trách tâu xin định lại điều lệ bắt kẻ phạm chuộc tội (lấy công truy bắt được kẻ vị truy nã để chuộc tội); không chuẩn cho bọn tái phạm được lập công chuộc tội kiểu ấy lần thứ hai.
(sđd., tr. 149 – 150).
++ Tự Đức âu lo về tình trạng người Pháp ngầm giúp hậu duệ nhà Lê để lật đổ nhà Nguyễn như trước đây, nên vua lại ra đạo dụ cho sĩ dân Bắc Hà.
(sđd., tr. 153 – 157).
++ Vua nước Đại Thanh (Trung Hoa) Đồng Trị chết. Hoàng tử Tái Quát lên ngôi: Quang Tự.
(sđd., tr. 157).

32) Tự Đức năm thứ 28, Ất hợi (1875): 52 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Ngày mùng một Tết, triều đình nhận được tập tâu đánh thắng bọn giặc biển Đám Dài ở Phù Long, thuộc tỉnh Quảng Yên, của tuần phủ Hồ Trọng Đỉnh (Liễn [?]). Vua và các hoàng thân, đại thần uống trà, làm thơ, đọc thơ mừng tin báo tiệp.
(ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 159).
++ Chuẩn lệ định nha, bộ, viện đề cử thuộc viên.
(sđd., tr. 159 – 161).
++ Thự Văn Minh điện đại học sĩ, thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện đại thần Trần Tiễn Thành vốn rất được Tự Đức trọng đãi, gần đây đau bụng, xin nghỉ việc, nay lại vào triều, hai lần lạy tạ vua.
(sđd., tr. 161).
++ Duyệt binh lớn.
(sđd., tr. 163).
++ Ông Ích Khiêm: quyền tán tương, ra Bắc. Vua thường khen Ông Ích Khiêm đỗ cử nhân lúc mới 15 tuổi, nhưng cũng thường trách là hăng hái mà vô lễ; nay khuyên Ông Ích Khiêm cố làm nho tướng.
(sđd., tr. 163 – 164).
++ Sai linh mục lãnh chức chủ sự Ti Hành nhân (thông ngôn) phiên dịch sách Tây (ngữ pháp, kĩ thuật quân sự, luật quân đội…). Linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng (Hoán) ấy và cả linh mục Đăng (Dangelzer) đều cho rằng không rành từ chuyên môn kĩ thuật, công nghệ máy móc… Đành chờ người phái đi Tây du học về sẽ dịch.
(sđd., tr. 164 – 165).
++ Bộ Hình của Nguyễn Văn Tường dâng bản thống kê về hình án để đọng (giam lâu chưa xét xử), ở kinh đô và tỉnh ngoài. Vua giao cho Bộ Hình xét xử cả 4 quan tỉnh vì để đọng án, gây đau khổ cho dân; khuyên Bộ Hình phải ra sức làm gương.
(sđd., tr. 165 – 166).
+++ Tháng hai âl..
++ Định thể chế đình nghị về việc mật hay không mật (ở Viện Cơ mật, ở Tả vu, ở Viện Tả Đãi lậu).
(sđd., tr. 166).
++ Định lệ thưởng phạt người tiến cử (tiến cử người hiền tài, thần đồng đích thực; đánh giá sai về người được tiến cử hoặc do thiên vị…).
(sđd., tr. 168 – 169).
++ Bộ Binh của Trần Tiễn Thành để trì trệ không xét vụ Vũ Duy Trinh, vốn là tên giặc ra đầu thú, nay là viên ngoại lang Bộ Công, ngôn ngữ, cử chỉ không giống sĩ phu. Bộ Lại của Nguyễn Tư Giản lại dâng tờ tâu đề cử làm án sát! Khoa đạo (Viện Đô sát) tâu hặc.
(sđd., tr. 169 – 170).
++ Nguyễn Uy giải chức. Tham tán Tôn Thất Thuyết: tuần phủ, hộ lí tổng đốc Ninh – Thái kiêm hiệp đốc các việc quân thứ Ninh – Thái – Lạng – Bằng. Nguyên thự tuần phủ Hà Nội Phạm Thận Duật trả chức từ tháng 10 âl., Giáp tuất (1874), nay mới được bổ nhiệm: thăng thụ tuần phủ Bắc Ninh. Tôn Thất Thuyết khiêm tốn tâu: Ít học, bệnh nhiều, xin vẫn là tham tán, không dám nhận chức mới. Vua bảo đã xem xét, phải chấp hành.
(sđd., tr. 170).
++ Sửa định luật lệnh (Vũ Khoa, Phan Sĩ Thục, Chu Duy Tĩnh, Ngô Quý Thông đảm trách) để làm “Đại Nam tụ trân điển lệ hội biên” (nhưng sau lại hoãn làm).
(sđd., tr. 172 – 173).
++ Bộ Hình của Nguyễn Văn Tường tâu xin định lại lệ nộp tiền chuộc tội xuy trượng. Có 4 ưu điểm trong việc cải cách này:
1) Các tội nhân bị đánh trượng có thể bị chết. Phải thấy rõ thực trạng đó.
2) Bình đẳng, không phân biệt người trong kinh, ngoài tỉnh, tất thảy đều được nộp tiền thay vì phải chịu phạt roi, trượng, theo một lệ.
3) Người nghèo khó không có tiền để chuộc tội, nên giảm cho 50%.
4) Luật lệ phải thống nhất và cách thu tiền chuộc phải có quy chế, không để cho các quan tùy tiện xê xích, dễ sinh tiêu cực.
(sđd., tr. 175 – 176).
++ Ban cho Phạm Văn Nghị (tiến sĩ) 100 lạng bạc vì bị Pháp thù ghét, phải ở ẩn.
(sđd., tr. 176).
+++ Tháng ba âl..
++ Khâm phái đại thần Nguyễn Văn Tường, phó khâm phái Phạm Ý cùng chánh khâm sứ và phó khâm sứ nước Pháp: Ba Long Bô, Lê Nho (thiếu tá hải quân Brossard de Corbigny và Regnault de Premesni) trao “hòa” ước 22 khoản, kí kết ngày 15-3-1874, tại sân trước lầu Ngọ Môn (Huế). Lễ hỗ giao: 11-3 âl., Tự Đức năm thứ 28 (14-4-1875). Sứ Pháp vào yết kiến vua Tự Đức tại điện Cần Chính, kính bưng bội tinh và phẩm nghi để cung tặng theo nghi thức ngoại giao. Triều đình cũng kính tặng phẩm vật, khánh vàng đáp lễ.
(sđd., tr. 177 – 178).
Lưu ý: Bội tinh, khánh vàng… đều là lễ vật ngoại giao (“hữu nghị”!).
++ Vua khiển trách các hoàng thân, quan viên, khi làm nghi lễ ngoại giao đã sơ suất, lộ vẻ tò mò, lạ lẫm trước người Pháp (có lẽ lần đầu tiên thấy tận mắt “bọn mắt xanh, mũi lõ, da bạch tạng, tóc râu ngô”, theo cách nói của người mình thời bấy giờ). Bốn người bị phạt lương từ 3 tháng đến 1 năm.
(sđd., tr. 179 – 180).
++ Định việc khâm sứ Pháp đóng ở kinh đô, gồm 14 khoản (do Nguyễn Văn Tường, Phạm Ý và Ba Long Bô [Brossard de Corbigny], Lê Nho [Regnault de Premesni] hội đồng nghĩ định, giao cho đình thần xét tâu, xin chuẩn định; lập biên bản, sao làm hai bản cho hai nước). Trong đó, đáng lưu ý: Khâm sứ Pháp ngang với tham tri nước ta; khâm sứ Pháp đến công thự Thương bạc đại thần phải đưa giấy thông báo trước, sắc thư nước Pháp phải do đại quan nước ấy mặc triều phục Pháp bưng đến giao cho Thương bạc đại thần nước ta xem xét; lãnh sự nước ta đóng ở Gia Định cũng như lãnh sự các nước; binh thuyền nước Pháp đến Thuận An (Huế) không quá 1 chiếc, không được chở binh khí…
(sđd., tr. 180 – 181).
++ Bắt đầu làm tạm bằng tranh tre dinh thự thương chính ở Ninh Hải (Hải Dương) và Đồn thủy Hà Nội (chưa xây gạch ngói thực).
(sđd., tr. 181).
++ Dân theo Thiên Chúa giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh đến tỉnh, đạo, kêu đòi bồi thường. Vua xuống dụ phân tích tình trạng mùa đông 1873 và mùa xuân 1874: Giáo dân làm hậu thuẫn cho Pháp; các nhà nho Văn thân sát tả [chủ yếu là sát tả!] và bình Tây (trong khi triều đình tiến hành “sách lược thỏa hiệp tạm thời”); có thể các quan khi được lệnh đánh dẹp cuộc chiến lương – giáo (như Lê Bá Thận, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Chính, Nguyễn Khuyến [tam nguyên Yên Đổ], Hoàng Hữu Xứng…, nhất là các viên đã được phái đi trước như Hồ Uy [Oai], Chu Đình Kế, Lê Dụ…) lại nhân thể đánh dẹp cả hai, “ngọc đá đều cháy”, vừa dẹp phe Văn thân, vừa đánh bọn giáo dân theo Pháp; chủ yếu là do dân lương, dân giáo giết nhau, đốt nhà cửa của nhau. Vua lại phê phán giáo dân Thiên Chúa giáo kiện tụng bậy. Có câu trong nguyên văn: “Dân giáo của ngươi nhiều người bị chết, dân lương há không chết nhiều ư? Bảo rằng của cải dân giáo mất nhiều, dân lương bị mất, so với ngươi, há lại chẳng gấp đôi ư? Nếu hết thảy phải đền [cho] ngươi, thì dân lương bị mất, ai sẽ phải đền [cho dân lương]?...” . Tuy vậy, trong bản dụ của vua Tự Đức, vẫn có câu sợ mất lòng, khích biến Pháp: “lại thù hằn người Pháp [đã bỏ rơi các ngươi, đã thỏa hiệp với triều đình], còn ra thế nào?”
(sđd., tr. 186 – 189).
++ Ba Long Bô (Brossard de Corbigny], giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier), giám mục Hòa (Croc) vẫn kiện tụng đòi bồi thường cho giáo dân Nghệ – Tĩnh.
(sđd., tr. 190).
++ Nha Thương bạc viết thư ngoại giao cho tướng Pháp tại Gia Định (yêu cầu: đánh giặc biển; buôn gạo Nam Kỳ ra, vì dân miền ngoài thiếu đói; không nên căm thù Lưu Vĩnh Phúc; chưa thể thông thương đường sông lên Vân Nam, Trung Hoa).
(sđd., tr. 190 – 191).
++ Trị tội bọn quan lại cơ hội, làm tay sai cho Pháp lúc Pháp chiếm Nam Định (1873): Đào Trọng Kỳ (tri phủ Kiến Xương), Lê Đình Quyên, Nguyễn Văn Quy (hiệp quản).
(sđd., tr. 191).
(xem thêm: “Quốc triều hương khoa lục” , sđd., số thứ tự: 2465, tr. 370).
++ Ruộng lộc điền cho công thần được phong tước (công, hầu, bá, tử, nam).
(sđd., tr. 192 – 193).
+++ Tháng tư âl..
++ Vũ Trọng Bình: tả tham tri Bộ Lại (bỏ chức tuần phủ Nghệ An).
(sđd., tr. 196).
++ Ông Ích Khiêm bị giải về kinh đợi án (theo lời tâu của Tôn Thất Thuyết), lại mắc bệnh tâm hỏa, về quê.
(sđd., tr. 198).
++ Vũ Trọng Bình lại ra Bắc vì đê Văn Giang vỡ.
(sđd., tr. 198 – 199).
+++ Tháng năm âl..
++ Pháp làm Nha Thương chính Hải Dương; linh mục Nguyễn Hữu Cư (người Việt, còn có tên là Thơ) làm tham biện Ti Thương chính tỉnh ấy; linh mục Nguyễn Hoằng (người Việt, còn có tên là Hoán) làm Ti Hành nhân, thuộc Nha Thương bạc.
(sđd., tr. 202).
++ Pháp giết chết cử nhân Bình Thuận Nguyễn Hữu Huân và Âu Dương Lân (cùng Văn thân và một số người Hoa chống Pháp).
(sđd., tr. 203).
++ In 200 bản thương ước 20-7 âl., Giáp tuất (31-8-1874), phát hành cho các tỉnh và người buôn nước Trung Hoa.
(sđd., tr. 207).
++ Làm Sở Thương bạc ngoài Thành nội, trước cửa Đông nam (cửa Thượng Tứ).
(sđd., tr. 208).
++ Nha Thương bạc viết thư thương thuyết với Phủ súy Pháp về vụ La Đăng [Dujardin] nghi ngờ Tôn Thất Thuyết tấn công (vì vào tháng 10 âl., Giáp tuất [1874], tướng Pháp còn sai La Đăng [Dujardin] chở thức ăn đến cho Đồ Phổ Nghĩa [Jean Dupuis] bằng tàu thủy Sắc Tê [?], do đó quân ta không thể làm ngơ…).
(sđd., tr. 208).
++ Thi đình (phúc hạch cử nhân thi hội trúng cách). Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tư Giản sung chức đọc quyển; Trần Văn Chuẩn, Bùi Ân Niên [Bùi Dị]: duyệt quyển. Lấy đỗ tiến sĩ: Phạm Như Xương…; đồng tiến sĩ: … Hoàng Hữu Thường, Tống Duy Tân…, Trần [Văn] Dư (Rư)…; phó bảng: … Tạ Thúc Dĩnh…
(sđd., tr. 208 – 209).

XIII. THỜI LÀM THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN QUẢN LÍ SỰ VỤ NHA THƯƠNG BẠC

+++ Tháng sáu âl..

++ Nguyễn Văn Tường: đổi bổ thượng thư Bộ Hộ, vẫn sung Cơ mật viện đại thần, quản lí công việc Thương bạc (*). Trần Bình: đổi bổ thự thượng thư Bộ Hình, kiêm coi Bộ Công (vì Phạm Ý có tang mẹ, nghỉ 3 tháng).
(sđd., tr. 211).
---- (*) Từ đây, người biên soạn khảo sát nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường trong ĐNTL.CB. kỉ IV, ngoài tên họ Nguyễn Văn Tường được ghi rõ, còn qua 3 chức danh: thượng thư Bộ Hộ; quản lí Thương bạc đại thần; và riêng “Cơ mật viện đại thần” là gồm một nhóm đại thần (thường là tứ trụ triều đình), tùy ngữ cảnh mà xác định. ----
++ Định lại lệ phái thuyền đến các nước thông thương để mua vật hạng và để quan sát, tìm hiểu tình hình các nước. Viện – Bạc [Cơ mật viện – Nha Thương bạc] và Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường cùng Bộ Công của Trần Bình bàn bạc: nhân thể, buôn kiếm lãi, lấy thu bù chi cho công quỹ (công quỹ vốn bị cạn kiệt).
(sđd., tr. 213).
++ Trương Quang Thủ ở Nghệ “đầu thú” (nguyên văn).
(sđd., tr. 214).
++ Khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) đến cửa biển Thuận An (Huế). Bộ Lễ phái người đón tiếp. Lê Na (Rheinart) đến Sứ quán, đệ giao quốc thư cho Nha Thương bạc do Nguyễn Văn Tường đảm trách. Lê Na (Rheinart) là khâm sứ thường trú đầu tiên tại kinh đô, theo “hòa” ước Giáp tuất (1874).
(sđd., tr. 214).
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường: thu thuế thiếc, sản xuất ở Vân Nam (Trung Hoa), chở xuống Hà Nội để đưa sang Quảng Đông (Trung Hoa).
(sđd., tr. 217).
+++ Tháng bảy âl..
++ Quan tỉnh Hải Dương Phạm Phú Thứ thông tư về nạn sâu bọ, nước lụt cho Bộ Hộ. Vua trách, phải tự liệu; không vì nước thì vì dân!
(sđd., tr. 218).
++ Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường) cải cách thuế ruộng: từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, vốn xưa nay thuế ruộng công rất nặng, thuế ruộng tư lại rất nhẹ; do đó, có khuynh hướng biến ruộng công thành ruộng tư (bọn cường hào, địa chủ câu kết tập trung ruộng vào tay). Nay cải cách lại, theo cách đánh thuế ruộng từ Quảng Bình vào Nam: ruộng công, ruộng tư bằng nhau (tùy theo hạng). Vua chuẩn cho.
(sđd., tr. 220).
(xem thêm: ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 332 – 333).
Phải chăng từ đấy bài ca dao sau xuất hiện và truyền miệng trong dân gian:
“Từ nay tôi cạch đến già
Tôi không dám cấy ruộng bà nữa đâu
Ruộng bà vừa xấu vừa sâu
Vừa bé hạt thóc vừa lâu đồng tiền
Tôi về cấy ruộng công điền
Hạt thóc đã lớn quan tiền trao tay”.

++ Nguyễn Tư Giản có học trò là Phan Văn Nhã; y làm giả ấn quan phòng tỉnh Thanh Hóa, nộp đơn chờ bổ nhiệm ở Bộ Lại. Nguyễn Tư Giản và 2 người khác đều đóng ấn, kí tên. Biện lí Tôn Thất Phan tâu hặc. Nguyễn Tư Giản bị cách chức; vua chuẩn cho đến miền núi khẩn hoang chuộc tội. Thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận kiêm coi Bộ Lại.
(sđd., tr. 220 – 221).
++ Tổng đốc [Nghệ] An – [Hà] Tĩnh Nguyễn Chính tâu xin giúp đỡ dân ở đấy trước đây bị đốt nhà, chết người, do lương, giáo thù nhau.
(sđd., tr. 222).
++ Thương bạc đại thần Nguyễn Văn Tường cùng khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) giao thương ước cho nhau ở dinh Nha Thương bạc.
(sđd., tr. 222).
++ Định rõ các tờ mật tâu của đình thần từ nay đều do Viện Cơ mật cất giữ để giữ bí mật tốt.
(sđd., tr. 222 – 223).
++ Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường): xin định rõ lệ biên phiếu thu thuế quan.
(sđd., tr. 223 – 224).
+++ Tháng tám âl..
++ Thự tổng đốc Hải – Yên, tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ không có lòng “hòa hảo” (!) với người Pháp. Vua dụ phải lưu lại mặc dù đã “khiển trách” (!).
(sđd., tr. 224).
++ Vua trách Bộ Binh của Trần Tiễn Thành không luyện tập cho quân lính.
(sđd., tr. 224).
++ Quân thứ Tuyên Quang và quân nước Thanh bắt sống tướng phỉ Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh (*), xử lăng trì, bêu đầu…
(sđd., tr. 225 – 226).
---- (*) Hoàng Sùng Anh (tàn dư Thái Bình thiên quốc biến tướng) là một trong vài tên tướng giặc Cờ đã khiến nhân dân, quan quân hai nước Đại Nam và Đại Thanh hao tổn nhiều nhất về người và của. ----
++ Sơn phòng sứ Thanh Hóa Trương Quang Đản tâu xin lập hệ thống sơn phòng khắp nước.
(sđd., tr. 226 – 227).
++ Vua chuẩn cho việc định lệ dân Thiên Chúa giáo được đi thi, làm quan, chiểu y “hòa” ước Giáp tuất (1874), theo sự tâu trình của đình thần (cạnh tên chua vào 2 chữ “giáo dân”; tham dự tế lễ, triều mừng phải theo tục lệ nước ta…).
(sđd., tr. 228).
++ Thưởng cho các hộ dệt vải nhung ở Hà Nội; khuyến khích lập xưởng thợ cơ khí: xe, thuyền, súng, khí cụ, đồng hồ…
(sđd., tr. 230 – 231).
+++ Tháng chín âl..
++ Khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) đến Nha Thương bạc hội thương, yêu cầu cho biện lí Bộ Công Nguyễn Văn Chất cùng đến xã Dương Xuân, Nguyệt Biều. Với mục đích chọn đất làm trụ sở, Lê Na (Rheinart) dùng mánh khóe, chuẩn bị sẵn 30 giáo dân để giúp y đóng cọc cuộc đất. Do đó, quan Thương bạc và khâm sứ Pháp đi đến chỗ mất hòa khí. Tướng Pháp tại Gia Định và vua Tự Đức phải trao đổi thư hòa giải. Nguyên văn lời Tự Đức: “không nên làm nhục nhau” . Vua quy trách do quan Thương bạc khinh thường, nghe lời để bị vấp mánh khóe của Lê Na (Rheinart). Quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường, quan huyện hương thủy bị giáng cấp, lưu nhiệm (*) (**).
(sđd., tr. 232).
---- (*) Xem: Delvaux, “Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1916), tập 3, nhiều người dịch và hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1997, tr. 33. Để rõ hơn, xin xem: Bửu Kế, “Chuyện triều Nguyễn”, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 79 – 80.
(**) Bổ sung thêm tư liệu tham khảo (2003), người biên soạn (Trần Xuân An) ghi bằng tay vào bản vi tính 2001: Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, “Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883)”, Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển dịch, Nxb. Văn Học, 2003, tr. 223, 233 (các tiểu mục: 893, 926 và 928). ----

++ Lãnh sự Pháp ở Hải Dương xin đi thượng du. Quan Viện – Thương bạc tâu lên. Vua không cho. Quan Thương bạc viết thư nói rõ cho tướng Pháp tại Gia Định để y bảo lãnh sự Pháp tuân lệnh.
(sđd., tr. 233).
++ Định lệ Nha Thương chính mỗi cuối tháng phải làm bản báo cáo gửi về Bộ Hộ.
(sđd., tr. 234).
++ Tôn Thất Thuyết: đổi làm hiệp đốc quân vụ đại thần quân thứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, vì Pháp nghi kị Tôn Thất Thuyết. Phạm Thận Duật: hộ lí tổng đốc Ninh – Thái, thay Tôn Thất Thuyết.
(sđd., tr. 235 – 236).
++ Giáng tuần phủ Thuận – Khánh Lê Đình Tuấn, đổi bổ lĩnh bố chính sứ Hà Nội; bố chính sứ Hà Nội Trương Gia Hộ lĩnh tuần phủ Thuận – Khánh. Nguyên do: Pháp gửi văn thư trình bày việc Lê Đình Tuấn che chở cho Trần Khai Kim (người Thanh), vốn là người mộ nghĩa. Quan Viện – Thương bạc tâu xin hoán đổi để khỏi mất lòng, khích biến người Pháp lúc này. Vua dặn Trương Gia Hội cứ giúp đỡ người Nam Kỳ mộ nghĩa nhưng chớ để lộ thanh tích (tiếng tăm, dấu vết), mới ổn thỏa.
(sđd., tr. 236 – 237).
++ Thự tổng đốc Bình – Phú Hoàng Văn Tuyển: thượng thư Bộ Công.
(sđd., tr. 238).
++ Ngô Gia Hậu (Gauthier, giám mục) đến kinh đô Huế kêu kiện về cuộc xung đột lương – giáo ở Nghệ An. Lê Na (Rheinart) đưa thư cho Nha Thương bạc, lời lẽ bất mãn. Phan Huy Khiêm sung làm khâm sai ra truy xét.
(sđd., tr. 240).
++ Gia thế Tôn Thất Đính (thân sinh Tôn Thất Thuyết), vua cần biết, để khuyên Tôn Thất Thuyết về việc hàm dưỡng, ôn luyện, trở thành một nho tướng.
(sđd., tr. 245 – 246).
+++ Tháng mười âl..
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường tham gia xử án với Bộ Hình của Trần Bình.
(sđd., tr. 248 – 249).
++ Sung quản lí Thương chính và Hải phòng tỉnh Hải Dương Nguyễn Hữu Độ về kinh đô, vào chầu vua, tâu về đê chính, lưu dân, thương chính (lời lẽ tỏ ra có tinh thần chống Pháp, cảnh giác với mưu đồ của chúng). Vua thăng thự hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Lại, làm việc ở Nha Thương bạc của Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 253 – 254).
++ Nguyễn Văn Tường tâu xin đặt Nha Kinh lí Sơn phòng tỉnh Quảng Trị, lấy hai huyện Thành Hóa, Hướng Hóa lệ thuộc vào, đặc biệt lưu ý khai khẩn quanh đồn Trấn Lao (huyện Thành Hóa); và nhắc đến thời ông làm bang biện ở đấy (1866 – 1868), có ý tâu xin tăng cường việc phòng thủ: Thời đoạn này, phải phòng thủ, vậy mới thực tế.
(sđd., tr. 255).
(xem lại: ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 89).
+++ Tháng mười một âl..
++ Hoàng Văn Tuyển: Cơ mật viện đại thần.
(sđd., tr. 256).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc lúc này: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Lê Bá Thận, Trần Bình, Hoàng Văn Tuyển.
++ Tàu thủy nước Pháp lên thẳng thượng du Bắc Kỳ, vẽ bản đồ, tìm quặng mỏ trái phép.
(sđd., tr. 257 – 258).
++ Bắt đầu đánh thuế dầu hồi (tinh dầu của cây hồi).
(sđd., tr. 257).
++ Nguyễn Văn Tường muốn từ chối khéo chức quản lí Thương bạc, giao cho Nguyễn Hữu Độ (lúc này bản chất cơ hội, tay sai của y chưa bộc lộ rõ). [Vả lại, Nguyễn Văn Tường phải kiêm nhiệm nhiều; công tác ở Nha Thương bạc trong thời đoạn “thỏa hiệp tạm thời” , “chịu khuất” để chấn chỉnh nội lực của Đất nước, gặp việc trái lòng phải nén lại, rất khó chịu] (*). Vua không cho.
(sđd., tr. 258).
---- (*) Đây là lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường muốn từ khước công việc quản lí Thương bạc sự vụ. (Xem lại: ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 126 – 127). ----
++ Tha thuế năm Tự Đức thứ 26, Quý dậu (1873) cho Hà Nội.
(sđd., tr. 258).
++ Tham biện Thương bạc Nguyễn Hữu Độ đến Gia Định tiễn Du Bi Lê (Dupré) về nước Pháp.
(sđd., tr. 259).
++ Quan Thương bạc tâu: Một người Ý và một người làm thuê cho Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) nay lại muốn làm cho ta, nhưng sứ Pháp Lê Na (Rheinart) bảo không nên. Vua phê vào tờ tâu với ý ngờ Pháp muốn cô lập nước ta (như đã ràng buộc trong thương ước 1874) và nhắc nhở rằng: Nếu Pháp hoạnh lắm, ta phải tiến thoái không ngại chúng.
(sđd., tr. 262 – 263).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Bộ Hộ vâng lệnh hậu thưởng cho tướng sĩ nước ta ở biên giới Bắc Kỳ và cả quân Thanh, hiện do Triệu Ốc làm tướng, đang giúp ta tiễu phỉ.
(sđd., tr. 266).
++ Lại đổi 3 đạo Quảng Trị, Phú Yên, Hà Tĩnh làm 3 tỉnh như trước 1851.
(sđd., tr. 267).

33) Tự Đức năm thứ 29, Bính tí (1876): 53 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Đức Đạt dâng sớ xin gia hạn hoãn việc thi hành theo lệ thuế mới về ruộng (công, tư bằng nhau; thống nhất trên cả nước) thêm 3 năm. Vua khiển trách (dẫn chứng: tuần phủ Nam Định Nguyễn Trọng Hợp tâu là tiện ích cho dân).
(ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 269).
++ Quan khâm mệnh chọn ngày tế giao là Nguyễn Văn Tường. Nguyễn Văn Tường gieo thẻ, không chọn được ngày tốt. Vua nhân đó bỏ lệ gieo thẻ xin ngày.
(sđd., tr. 270).
++ Pháp cấp giấy phép cho thầy thuốc nước Đồ Bà (Xà Bà, Java) trái phép. Quan tỉnh Bình Thuận xin bỏ qua (không vin “hòa” ước, phê phán Pháp), nhưng phải dò xét.
(sđd., tr. 271).
+++ Tháng hai âl..
++ Du Bi Lê (Dupré) về Pháp; Bô Giang (Bossant) sang thay.
(sđd., tr. 273).
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường cùng Bộ Binh, Bộ Công dâng sớ phân tích các mặt về giặc biển và đề xuất biện pháp tiễu trừ.
(sđd., tr. 274 – 275).
++ Lê Đình Tuấn bị giáng làm bố chính Hà Nội, chưa kịp lãnh chức, lại được thăng hộ lí tuần phủ [Quảng] Trị – [Quảng] Bình. Vua triệu đến bảo ban, dặn dò lưu ý về nơi quan yếu là Cam Lộ (Quảng Trị).
(sđd., tr. 275).
+++ Tháng ba âl..
++ Vua nhắc nhở chiểu “hòa” ước Giáp tuất (1874) để xử trí giáo dân tranh kiện.
(sđd., tr. 276).
++ Lãnh sự Pháp đến Đông Triều (Quảng Yên) tìm mỏ than. Vua cho.
(sđd., tr. 276).
++ Đánh thuế ruộng công và ruộng tư bằng nhau ở Bắc Kỳ. Có 5 tỉnh gặp khó khăn, nộp tiền thay thóc.
(sđd., tr. 276).
++ Xung đột giữa thuộc viên khâm sứ Pháp và lính phủ Văn Lãng quận công (Hồng Dật). Lê Na (Rheinart) trình quan Thương bạc. Cuối cùng quan Viện – Bạc hội đồng xét xử.
(sđd., tr. 277).
++ Đốc học Pháp Trương Vĩnh Ký (người Vĩnh Long / Gia Định) từ Thanh Hóa đi Nam Định, Ninh Bình du khảo về bác vật.
(sđd., tr. 278).
++ Thu thêm một ít thóc thuế để nộp vào nghĩa thương (thay vì ruộng xã thương), từ Quảng Bình vào Nam (hai năm sau sẽ thi hành ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra).
(sđd., tr. 279 – 290).
++ Bộ Hộ, Bộ Binh thuê dân phu để phu trạm được nhẹ bớt việc.
(sđd., tr. 280).
++ Đình thần phân tích về lệnh cấm đi buôn đường biển: Nay đã lỗi thời và có hại, cần bỏ lệnh cấm ấy, để phát triển ngoại thương, tạo thế cạnh tranh với người Hoa, người Tây.
(sđd., tr. 281 – 282).
+++ Tháng tư âl..
++ Lê Na (Rheinart) vẫn không được dựng trụ sở ở Dương Xuân, Nguyệt Biều, mặc dù y đã dùng mánh khóe hồi tháng 9 âl., Ất hợi (1875). Đến nay, y đã được làm trụ sở: Sứ quán Pháp, bên kia sông Hương (*). Quan Thương bạc thần giao giấy cho y, y kí tên vào biên nhận.
(sđd., tr. 283 – 284).
---- (*) Nơi đối diện với cửa Thượng Tứ, chếch về phía Đập Đá, Vĩ Dạ, nay là Đại học Sư phạm Huế. ----
++ Tào chính, Thương chính kết hợp thành một nha (Trần Như Sơn trông coi), vẫn thuộc Bộ Hộ do Nguyễn Văn Tường đảm trách chung.
(sđd., tr. 284).
++ Thượng thư Bộ Công sung Cơ mật viện đại thần Hoàng Văn Tuyển tiết lộ việc cơ mật với đồng sự, bị phạt trượng, cách chức, không được bổ dụng. Vua ân giảm, cho làm việc chuộc tội ở Nha Thương chính. Tôn Thất Tĩnh (thự tổng đốc Thanh Hóa): thượng thư Bộ Công.
(sđd., tr. 285 – 286).
++ Khâm sứ Pháp đưa văn thư xin cho lãnh sự Hà Nội đi thăm xét thượng du.
(sđd., tr. 286).
++ Gần đây, ống chạy trạm có gãy rời. Dụ: Cần nghiêm ngặt về vấn đề giao liên ở các trạm (bưu cục…).
(sđd., tr. 286).
+++ Tháng năm âl..
++ Hiệp đốc quân thứ Thái Nguyên Tôn Thất Thuyết đệ gửi tập tâu chê trách thống đốc Hoàng Tá Viêm. Vua trách Tôn Thất Thuyết, khuyên phải cố gắng trở thành trí tướng, nho tướng, nhân tướng.
(sđd., tr. 291 – 292).
++ Từ tháng 3 âl., tàu chiến của Pháp chạy trên các tuyến sông không được sự thỏa thuận trong “hòa” ước Giáp tuất (1874). Quan Cơ mật viện – Thương bạc tâu, xin viết văn thư trách (chỉ được đi ngoài biển và từ sông Cấm đến Hà Nội).
(sđd., tr. 293 – 294).
++ Trần Ngọc Trúc và sáu nghĩa sĩ Nam Kỳ trốn khỏi đảo tù Côn Lôn, về Bình Thuận. Pháp đòi nã bắt. Trương Gia Hội phải theo lệnh vua giải giao cho Pháp, vì không giấu được, bị lộ.
(sđd., tr. 296).
+++ Tháng năm nhuận âl..
++ Tham biện Thương bạc Nguyễn Hữu Độ đến Gia Định nhận thuyền, súng đạn Pháp chuyển tặng theo “hòa” ước Giáp tuất (1874).
(sđd., tr. 297).
++ Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành tuổi cao, khí suy, khiến việc ở Bộ Binh trì đọng. Vua cho chỉ trông coi tổng quát và xử lí việc quan trọng để được rảnh rỗi xem xét việc đình nghị.
(sđd., tr. 298).
++ Bô Giang (Bossant) về nước, Du Bi Lê (Dupré) sang thay.
(sđd., tr. 298).
++ Bãi bỏ Nha Thương chính kinh kì; công việc của Nha này vẫn thuộc Bộ Hộ do Nguyễn Văn Tường đảm trách.
(sđd., tr. 300).
++ Đỗ Đệ thăng thụ hữu tham tri Bộ Hộ.
(sđd., tr. 301).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đình thần cho rằng công việc Bộ Hộ quá nhiều, xin tách Tào chính, Thương chính ra. Người quản lí Tào – Thương phải được Bộ Hộ cố vấn. Tạm chuẩn.
(sđd., tr. 302).
++ Vua Tự Đức tự phê bình về việc chưa lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ. Đình thần hai lần xin nhà vua chỉ truyền kín chỉ dụ ấy trong nội bộ ấn quan, đừng phổ biến ra ngoài, sợ lòng dân thêm xao động.
(sđd., tr. 305 – 306).
+++ Tháng bảy âl..
++ Tìm hỏi người Tây có năng lực giúp được về kĩ thuật trị thủy (đê điều).
(sđd., tr. 308).
++ Giám mục Pháp Phu Chi Nhi (Puginier) ở Hà Nội lại chêm thêm vào việc kiện cáo của giáo dân Thanh Hóa, muốn lập ruộng đạo điền. Vua phạt quan tỉnh vì không biết bác bỏ đi.
(sđd., tr. 310 – 311).
+++ Tháng tám âl..
++ Bộ Binh và Nguyễn Văn Tường thương thuyết với Lê Na (Rheinart) về việc cho người hướng dẫn kĩ thuật súng Tây.
(sđd., tr. 312 – 313).
++ Phạm Thận Duật khỏi ốm, về kinh, nhận chức tả tham tri Bộ Lại, kiêm tả phó đô ngự sử Viện Đô sát.
(sđd., tr. 314).
++ Bộ Hộ (thượng thư Nguyễn Văn Tường) tâu về số ruộng khẩn hoang của Trần Đình Túc, Nguyễn Lâm trước đây. Trần Đình Túc được thưởng.
(sđd., tr. 317).
++ Các tổng đốc, tuần phủ như Phạm Phú Thứ (Hải – Yên), Trần Đình Túc (Hà – Ninh), Trần Hy Tăng (Hà Nội), Nguyễn Tăng Doãn (Hải Dương) đều kiêm thêm việc quản lí thương chính.
(sđd., tr. 318).
++ Lê Na (Rheinart) vào chầu, chúc mừng nhân Tiết Vạn thọ.
(sđd., tr. 318).
+++ Tháng chín âl..
++ Kê La Đích (Kergaradec), lãnh sự ở Hà Nội, lên sông Thao xem xét đường sông.
(sđd., tr. 322).
++ Nguyễn Uy (Oai) chết.
(sđd., tr. 322 – 323).
++ Vua đặt tên 5 chiếc tàu thủy Pháp tặng theo “hòa” ước: Lợi Tái, Lợi Tế, Lợi Đạt, Lợi Dụng, Lợi Phiếm.
(sđd., tr. 324).
++ Định lệ dân lương, dân Thiên Chúa giáo kêu kiện.
(sđd., tr. 324).
++ Vua Tự Đức động viên việc tiến cử.
(sđd., tr. 324 – 325).
++ Đường trạm của ta chỉ nhận chuyển thư từ của tướng Pháp, lãnh sự Pháp, không nhận chuyển cho linh mục, giám mục.
(sđd., tr. 325 – 326).
++ Lãnh sự Pháp đến biển Thị Nại (Bình Định) mở việc buôn bán.
(sđd., tr. 328).
+++ Tháng mười âl..
++ Lãnh sự Hà Nội Kê La Đích (Kergaradec) đi thám xét thượng du Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 340).
++ Biện lí Bộ Hình Nguyễn Hữu Hoán đến Gia Định thưởng cho tướng Pháp.
(sđd., tr. 340).
++ Lê Na (Rheinart) về nước (do bị bệnh), Hoắc Đạo Sinh (Philastre) sang thay, làm khâm sứ ở Huế.
(sđd., tr. 341).
++ Cho người buôn thuộc nước Thanh lãnh trưng các thuế sản vật. Nếu có thói tệ, trừng trị ngay.
(sđd., tr. 345).
+++ Tháng mười một âl..
++ Tự Đức làm bài kí “Thuyền ngũ lợi” (*). Đó là bài kí tặng Nguyễn Văn Tường, và có ý nói: Mới tặng danh, và mong chờ báo đáp thiết thực bằng tài ngoại giao của Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 347).
---- (*) Xem nguyên văn và bản dịch trong “Tự Đức thánh chế văn tam tập”, tập 2, Tủ sách Cổ văn, UBDT. PQVK. ĐTVH. xb., Sài Gòn, 1973, tr. 223 – 227. ----
++ Chuẩn bị điển lễ của hoàng tử; cất vào hòm sắt văn bản về điển lễ ấy. Nếu trái, sẽ bị xử trọng hình.
(sđd., tr. 348 – 350).
++ Người buôn nước Thanh chở tiền đồng cổ ra khỏi nước ta. Nghiêm cấm.
(sđd., tr. 352).
++ Hoắc Đạo Sinh (Philastre) muốn học sách Nho. Tạo điều kiện cho y.
(sđd., tr. 352).
++ Tuần phủ Nam – Ngãi Trần Văn Thiều (vi phạm có tình tiết về việc cho lãnh trưng thuế thuốc phiện) bị phạt trượng tột bậc và bị tội đồ.
(sđd., tr. 353).
---- Từ tháng mười hai, năm Ất sửu (1865), triều đình Tự Đức đã bỏ lệnh cấm nhân dân sử dụng thuốc phiện, nhưng hạn chế tối đa bằng cách đánh thuế thật nặng (chỉ người giàu có mới hút nổi), nhằm bù đắp vào ngân sách cạn kiệt do khoản “bồi thường chiến phí” ngược ngạo, thực dân Pháp và Tây Ban Nha đã ép buộc nước ta phải trả cho chúng (“hòa” ước Nhâm tuất [1862]). Hệ quả này cũng nằm trong chiến lược toàn cầu của thực dân Phương Tây, chẳng hạn như ở Trung Hoa, “cuộc chiến tranh thuốc phiện” đã được thực dân Anh tiến hành, buộc nhà Thanh phải kí kết “hòa” ước Nam Kinh từ 20 năm trước (1842). Về sau, khi đã áp đặt được ách nô lệ, thực dân Pháp đã đầu độc nhân dân ta không những bằng ma túy, mà còn bằng rượu, với những thủ đoạn kinh tế, tài chính và cả thủ đoạn hành chính thâm độc. ----
+++ Tháng mười hai âl..
++ Lãnh tổng đốc Nguyễn Chính ở Nghệ An tâu xin gia hạn thêm sáu tháng để phân xử vấn đề lương – giáo, và xin Nha Thương bạc đem sổ bồi thường thông báo cho Phủ súy Pháp tại Gia Định, để y hiểu bảo dân Thiên Chúa giáo. Quan [Thương bạc? Viện – Bạc? các đình thần? (*)] dâng tập tâu phân tích mối thù lương – giáo (giáo dân thù về nhà cửa bị đốt, nay đã thôi; nhưng thù về án mạng, nay giáo dân còn buộc phải đền bù); và sợ rằng, triều đình đem sổ bồi thường trình bày cho Pháp, không khỏi bỉ mặt (mất quốc thể), Pháp lại dòm ngó [vào bí mật quốc gia]; đề nghị cứ kết án, buộc bồi thường, nếu không bồi nổi thì khoan giảm (biện pháp có vẻ hình thức để đối phó trước tình huống với mục đích để Pháp cùng giáo dân không trách được). Vua chuẩn: Mật sức cho Nguyễn Chính.
(sđd., tr. 356 – 357).
---- (*) Trong nguyên văn, chỉ có một chữ “quan”. Người biên soạn (Trần Xuân An) nghĩ rằng, đây là công việc trực tiếp của Nha Thương bạc, nên chắc hẳn tập tâu ấy là của quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường. ----
++ Tôn Thất Thuyết muốn xuống tóc đi tu ở chùa Phật giáo. Vua trách, khuyên phải lo việc nước.
(sđd., tr. 358).
++ Công việc tiễu phỉ ở biên giới phía Bắc vẫn chưa xong. Quan điểm tiễu phỉ của Hoàng Tá Viêm: phủ dụ; khác với quan điểm của Tôn Thất Thuyết: chủ đánh, tiêu diệt. Dẫu sao, nước ta vẫn phải nhờ quân Thanh kéo quân sang, hội đánh.
(sđd., tr. 360 – 362).
Pháp mặc dù đã cam kết giúp ta tiễu phỉ (ở “hòa” ước Giáp tuất [1874]), nhưng Pháp vẫn thiếu thiện chí, thậm chí lại điêu toa ngầm giúp bọn phỉ.

34) Tự Đức năm thứ 30, Đinh sửu (1877): 54 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Tự Đức xuống dụ, nói về tình trạng sức khỏe ốm yếu, bệnh tật, lo phiền của bản thân nhà vua, mong các quan gắng sức.
(ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 6 – 15).
++ Thống lãnh nước Thanh Tô Nguyên Chương đem 3 doanh quân đến Bắc [Kạn], Thái [Nguyên] để đánh dẹp phỉ, nhưng lại rút quân về, vì tình hình đã thư.
(sđd., tr. 15 – 16).
++ Tướng Pháp tại Phủ súy Gia Định đệ tiến phẩm vật. Đáp lễ.
(sđd., tr. 16).
++ Hộ lí tuần phủ Trị – Bình Lê Đình Tuấn: thăng thụ thị lang, thự tả tham tri Bộ Hình.
(sđd., tr. 18).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) phụng chuẩn, giao cho sứ Pháp một ít vàng sống do Trương Gia Hội dâng lên, để nhờ thử nghiệm.
(sđd., tr. 19).
+++ Tháng hai âl..
++ Tỉnh Quảng Trị đói kém, ở kinh đô Huế giá gạo đắt. Bộ Hộ cho tạm ứng gạo lương của quan, lệnh cho nhà giàu không được tích trữ đầu cơ.
(sđd., tr. 20).
++ Hộ bộ tả thị lang Vũ Khoa: thự tuần phủ Trị – Bình. Vua căn dặn về vấn đề lương – giáo chưa yên; việc lo xa là phải kinh lí Cam Lộ.
(sđd., tr. 24 – 25).
+++ Tháng ba âl..
++ Mối thù giữa Lưu Vĩnh Phúc và người Pháp lại rắc rối, vì Pháp muốn đuổi Lưu Vĩnh Phúc khỏi Bảo Thắng (tỉnh Hưng Hóa) để chúng tiện đường lên Vân Nam (Trung Hoa).
(sđd., tr. 29 – 34).
+++ Tháng tư âl..
++ Một chiếc tàu Xích Mao (Hồng Mao, Anh) đến cửa biển Hải Dương buôn bán. Thuyền các nước, gồm cả Xích Mao, đến thông thương, đều chịu thuế như điều ước thương mại Giáp tuất (1874).
(sđd., tr. 34).
++ Thượng thư Bộ Hình Trần Bình kiêm quản Bộ Lại.
(sđd., tr. 37).
++ Lạng Sơn: vẫn còn phỉ quấy nhiễu.
(sđd., tr. 40).
+++ Tháng năm âl..
++ Nguyễn Thông tâu xin cho hơn 50 người Nam Kỳ mộ nghĩa khai khẩn. Vua y cho, dặn giấu kín hình tích.
(sđd., tr. 42 – 43).
++ Thi đình (phúc thí cử nhân thi hội trúng cách). Hộ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, tước hiệu Kì Vĩ bá Nguyễn Văn Tường: đọc quyển. Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thuật: duyệt quyển. Đỗ đồng tiến sĩ xuất thân: Phan Đình Phùng (*)…
(sđd., tr. 43 – 44).
---- (*) Anh hùng chống Pháp thời Cần vương (1885 – 1896…) về sau. ----
++ Tha thóc thuế và tiền vay cho 6 huyện thượng du Hải Dương.
(sđd., tr. 48).
++ Hoàng Hữu Xứng (tả thị lang Bộ Lại): kiêm coi Viện Đô sát (*).
(sđd., tr. 48).
---- (*) Hoàng Hữu Xứng là vị quan được triều thần, nhân dân nhận định là rất thanh liêm (lời Phạm Phú Thứ). ----
+++ Tháng sáu âl..
++ Đình lệnh khuyến khích dân lạc quyên. Nhân xem danh sách tâu xin khen thưởng do Bộ Hộ lập, vua ra dụ với quan điểm chứa giàu ở dân, “dân giàu là mẹ [nuôi nấng, đùm bọc] dân nghèo” (!) (*).
(sđd., tr. 49 – 50).
---- (*) Theo hình ảnh người giàu có nhân từ trong các thuyết giáo hóa cổ xưa. ----
++ Tôn Thất Thuyết lại xin nghỉ bệnh (đã nhiều lần trong mấy năm nay).
(sđd., tr. 50).
++ Tướng Pháp phái đưa tàu thủy Bô Liêm (Bourayne) giúp ta đánh giặc biển.
(sđd., tr. 51).
++ Ban cấp cho Hoắc Đạo Sinh (Philastre) một bộ luật để y học tập, tham khảo. Y cho luật nước ta là kĩ kưỡng và thích hợp.
(sđd., tr. 53).
++ Rắc rối giữa Phạm Phú Thứ và Nguyễn [Thượng] Phiên. Đều bị giáng.
(sđd., tr. 53 – 54).
+++ Tháng bảy âl..
++ Thượng thư Bộ Hình Trần Bình chấm thi hội có hành vi ám muội, bị giáng chức, cho làm việc chuộc tội ở Sử quán.
(sđd., tr. 57 – 58).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc [Viện – Bạc]: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Lê Bá Thận. Chỉ còn 3 người!
++ Bố chính sứ Bắc Ninh Hoàng Diệu: thăng thư Hình bộ hữu tham tri.
(sđd., tr. 62).
+++ Tháng tám âl..
++ Sứ bộ sang Pháp đáp lễ: tuần phủ Hà Nội Trần Hy Tăng, mang hàm Lễ bộ tả tham tri, chánh sứ; Lại bộ tả thị lang Trần Nhưọng, phó sứ; Công bộ biện lí Hoàng Văn Vận, bồi sứ. Nguyễn Hữu Độ rất được Pháp khen và yêu tin (xin lưu ý!), vua lại bổ làm tuần phủ Hà Nội!
(sđd., tr. 63 – 64).
---- (*) Gần như đồng thời, triều đình cử sứ bộ sang Trung Hoa, Pháp phản đối dữ dội (18-9-1877). Xem: Dương Kinh Quốc, “Việt Nam, những sự kiện lịch sử”, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 181; và các tư liệu khác về thời điểm này ----
++ Hoàng Hữu Xứng: trả việc ở Viện Đô sát [để về quê cư tang].
(sđd., tr. 64).
++ Sơn phòng sứ Quảng Trị Phan Khắc Kiệm dâng sớ: Thổ dân Cam Lộ gieo neo.
(sđd., tr. 64).
++ Bùi Viện, cử nhân người Nam Định, sung chức chánh quản đốc Nha Tuần tải thuộc Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 65).
++ Nguyễn Thành Ý, Vũ Văn Phú đem vật hạng sang Pháp đấu xảo. Pháp đã bàn với Viện Cơ mật về việc đó. Nguyễn Lập vào Gia Định thay Nguyễn Thành Ý.
(sđd., tr. 65 – 66).
+++ Tháng chín âl..
++ Du Bi Lê (Dupré) về Pháp; La Phong (Lafont) sang thay.
(sđd., tr. 67).
++ Quan Viện – Bạc được phái đi ban cấp cho Hoắc Đạo Sinh (Philastre) bộ “Ngự chế Việt sử tổng vịnh” .
(sđd., tr. 68).
++ Chánh, phó tổng tài Sử quán Trần Tiễn Thành, Lê Bá Thận bị giáng 1 cấp, lưu nhiệm.
(sđd., tr. 70).
+++ Tháng mười âl..
++ Tuần phủ Hải Dương Nguyễn Tăng Doãn: tả tham tri Bộ Lại, chánh sứ; Tôn Thất Phan: phó sứ; Hoàng Văn Vận: bồi sứ. Có sự thay đổi nhân sự sứ bộ sang Pháp như vậy. Vua dặn: Nếu có cơ hội mới bàn về chuyện lục tỉnh Nam Kỳ (lấy về lại).
(sđd., tr. 71 – 72).
++ Hồ Đăng Phong (bố chính sứ Bình Thuận): lãnh tuần phủ Thuận – Khánh, thay Trương Gia Hội (đang ốm).
(sđd., tr. 72).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Người nhà Hoắc Đạo Sinh (Philastre) đâm chết một người tên Đá (làm thuê).
(sđd., tr. 88).
++ Tàu thủy Pháp không chịu nộp thuế, bị đắm. Quan ở Viện Cơ mật định không cho cứu hộ để cảnh cáo!
(sđd., tr. 88).

35) Tự Đức năm thứ 31, Mậu dần (1878): 55 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Ngũ tuần đại khánh Tự Đức. Vua ban ân chiếu.
(ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 92 – 96).
++ Tướng Pháp ở Gia Định, khâm sứ ở kinh đô, lãnh sự, thống nhiếp của 3 sở thương chính đều tiến dâng phẩm vật.
(sđd., tr. 97).

XIV. THỜI VẪN TIẾP TỤC LÀM THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN QUẢN LÍ SỰ VỤ NHA THƯƠNG BẠC, ĐƯỢC THĂNG THỤ HÀM HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ

++ Trần Tiễn Thành: thực thụ Văn Minh điện đại học sĩ. Nguyễn Văn Tường: thăng thụ hiệp biện đại học sĩ… Nguyễn Tư Giản được về kinh làm việc ở Viện Hàn lâm…
(sđd., tr. 97 – 98).
++ Bình Thuận động đất 3 lần. Quan Cơ mật viện – Thương bạc theo lệ tâu xin vua tự kiểm xét về hình ngục, dân tình…
(sđd., tr. 99 …).
++ Cấp súng đạn Pháp tặng cho Hà Nội.
(sđd., tr. 103).
+++ Tháng hai âl..
++ Phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), từ tháng 8 âl., Bính tí (1876) đến tháng 8 âl., Đinh sửu (1877), bị dịch, mất mạng 4. 326 người (chủ yếu ở Hải Lăng, Minh Chính).
(sđd., tr. 108).
++ Định lại điều ước thu thuế quan tấn 1 lần (cho các nha thương chính).
(sđd., tr. 109 – 110).
++ Định đổi quốc hiệu: Đại Hưng, Đại Hóa, nhưng rồi vẫn để như cũ: Đại Nam.
(sđd., tr. 110).
++ Cấp tiền hàng tháng cho Nha Thương chính học chữ Tây.
(sđd., tr. 110 – 111).
+++ Tháng ba âl..
++ Quan Cơ mật viện – Thương bạc tâu: Xin bảo cho Lưu Vĩnh Phúc để nghiêm cấm lính trong đoàn quân của y, vì vừa xảy ra vụ Hoàng Tài Gia suýt đâm phái binh Pháp (sinh khích biến).
(sđd., tr. 113).
++ Linh mục Lê Ấn (người Việt) ở làng Xuân Hòa (*), huyện Gio (Do) Linh, tỉnh Quảng Trị, mưu họp dân, kiện quan, nhưng thực ra chỉ là vu khống.
(sđd., tr. 114).
---- (*) Người biên soạn (Trần Xuân An) bổ sung (2003) bằng bút vào bản vi tính 2001: Xem thêm: TS. Cao Huy Thuần, “Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1957 – 1914)” (Les missionnaires et la politique colonial française au Viet Nam, 1857 – 1914), Nguyên Thuận dịch, Nxb. Hà Nội, 2003, tr. 343… ----
++ Thu thuế mỏ than Quảng Yên.
(sđd., tr. 114).
++ Lương Văn Tiến (giám đốc Hải phòng ở Hải Dương) chiêu phủ thành công dân Thanh xiêu tán ở Quảng Yên, được thăng hàm.
(sđd., tr. 115).
+++ Tháng tư âl..
++ Bố chính sứ Trà Quý Bình tâu xin cấp ruộng tế tự cho Trương Định và con trai của ông (đều là nghĩa sĩ Nam Kỳ; quê gốc: Bình Sơn, Quảng Ngãi). Cơ mật viện cho rằng người khởi nghĩa như cha con Trương Định ở Nam Kỳ rất nhiều, chờ điều nghiên về thanh tích, sẽ thi hành cho tất cả một lượt. Vua bảo nên cấp ngay, cho vợ và người trong họ tế tự.
(sđd., tr. 118).
++ Vua chuẩn y việc mở trường học chữ Tây cho Nha Thương chính Hải Dương.
(sđd., tr. 118).
++ Quan Nha Thương bạc hỏi bàn với sứ Pháp về một số thư người Pháp, người Ý xin kinh doanh, khai thác mỏ… Nhưng họ đều có vẻ thiếu thành thật, vớ vẩn…
(sđd., tr. 119 – 120).
+++ Tháng năm âl..
++ Bộ Hộ tiểu trình về phép nhiếp ảnh. Cho dựng nhà chụp ảnh cạnh Sở Thương bạc.
(sđd., tr. 125 – 126).
++ Lãnh thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tâu xin đào sông xuyên Việt (phía Bắc kinh đô Huế). Vua đã cho Phan Sĩ Thục, Lê Đĩnh đi khảo sát; thấy trở ngại, nên đình. Tờ tâu của Nguyễn Văn Tường khá dài. Đây là một ý tưởng rất đặc sắc và phản ánh yêu cầu bức thiết (đường biển lắm hải tặc) nhưng khó thực hiện.
(sđd., tr. 126 – 128).
(xem nguyên văn trong ĐNTL.CB., sđd.).
++ Khai mỏ vàng Tĩnh Nê ở Cao Bằng.
(sđd., tr. 128).
+++ Tháng sáu âl..
++ Phạm Phú Thứ tâu xin bỏ cấm người buôn mua gạo một tháng. Không cho, vì sợ gạo thiếu, sinh ra nạn đói.
(sđd., tr. 130).
+++ Tháng bảy âl..
++ Vua đi xe ngự đến đàn chay tế chiến sĩ trận vong Nam Kỳ, Bắc Kỳ ở chùa Linh Mụ (Huế).
(sđd., tr. 135 – 136).
++ Lê Bá Thận (Bộ Lễ) bị phạt trượng, tội đồ.
(sđd., tr. 137 – 139).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc chỉ còn 2 người: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường.
+++ Tháng tám âl..
++ Sứ bộ sang Tây về (riêng Nguyễn Thành Ý đi đấu xảo còn ở lại). Nguyễn Tăng Doãn vẫn làm tả tham tri Bộ Lại, lại được sung Cơ mật viện – Thương bạc đại thần.
(sđd., tr. 145).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc lúc này đã gồm 3 người: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Tăng Doãn.
++ Phạm Thận Duật về kinh: tả phó đô ngự sử Đô sát viện.
(sđd., tr. 145 – 147).
++ Đúng ngày chính lễ ngũ tuần đại khánh của nhà vua, Tự Đức ban ân chiếu.
(sđd., tr. 150 – 156).
++ Hoàng Tá Viêm về kinh chúc thọ.
(sđd., tr. 157).
++ Đặc cách rót rượu vua dùng ban cho các hoàng thân, đại thần: Miên Định, Hoàng Tá Viêm, Lê Sỹ, Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 157).
++ Thưởng ngoại giao khâm sứ, lãnh sự Pháp.
(sđd., tr. 156 – 157).
+++ Tháng chín âl..
++ Thưởng ngoại giao giám mục, linh mục Nghệ An (chúc thọ vua ở nhà thờ Thiên Chúa giáo của họ).
(sđd., tr. 162).
++ Tướng nước Thanh Lý Dương Tài làm phản, trở thành phỉ quấy nhiễu Lạng Sơn.
(sđd., tr. 163 – 165).
+++ Tháng mười âl..
++ Vua xem nhật báo “Hương Cảng (*) tân văn” bàn về việc chấn hưng, thông thương và chống kẻ dám khinh rẻ (các khoản: 1. đóng tàu; 2. đúc súng; 3. học ngoại ngữ; 4. luyện tập quân), sai Viện Cơ mật xét nghĩ. Cơ mật viên phân tích, nhận định về tình hình và sức ì ở nước ta, đồng thời vạch kế hoạch. Tuy nhiên, Viện Cơ mật còn quá dè dặt: Quyết tâm canh tân chưa cao, do sự bao vây ngoại giao, sự “cấm vận” của Pháp và do sức ì nội tại nói trên (**). Vua cho là phải. Riêng việc học chữ và tiếng Tây thì cho thi hành ngay.
(sđd., tr. 165 – 167).
---- (*) Hồng Kông.
(**) Lưu ý: bản tâu của Cơ mật viện được chép lại, bị lược ý, thể hiện chưa rõ. Xem thêm về bản tâu xin bỏ lệnh cấm buôn đường biển, vào tháng ba, Tự Đức năm thứ 29, Bính tí (1876), trong ĐNTL.CB. tập 33, sđd., tr. 281 – 282. ----

++ Người Hoa, Người Tây, người Phổ (Đức) xin trưng thuế mỏ than. Cơ mật viện – Thương bạc: Khi đào được quặng, phải báo ngay.
(sđd., tr. 169).
++ Nguyễn Tăng Doãn: thăng thự thượng thư Bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần. Phạm Thận Duật: thụ thượng thư Bộ Hình, phó tổng tài Sử quán, kiêm quản Quốc tử giám đại thần.
(sđd., tr. 174).
++ Cấp đá lửa Nam – Ngãi cho việc quân.
(sđd., tr. 175 – 176).
+++ Tháng mười một âl..
++ Mưa lụt, đói kém. Biện pháp điều hòa lương thực.
(sđd., tr. 176).
++ Hoàng Diệu, Lâm Hoành, Đàm Khắc Nhượng, Đoàn Dao xin bỏ cấm tiền đồng khác kiểu để đánh thuế. Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường cũng bàn nghị lại và tâu lên. Trong đó có câu: “Tốn đồng, kẽm, công thợ, vật liệu của người, mà sung vào tiền hiệu thuế quan của ta, tưởng cũng hơi tiện”. Ý tưởng đó xuất phát từ nguyên tắc định mệnh giá đồng tiền: Mệnh giá = giá vật liệu (đồng, kẽm) + tiền công + tiền than củi đốt lò. Vua chuẩn y, và cho dùng cả tiền nước Thanh ở Lạng Sơn, Cao Bằng (*).
(sđd., tr. 176 – 177).
---- (*) Đại để như đồng tiền vàng trên cơ sở giá vàng thế giới ở một số nước, ở vài khu vực tiền tệ hiện nay (đồng tiền vàng EURO là một đơn cử).
Vấn đề là kiểm định chất lượng kim loại (đồng, kẽm, vàng)! Hiện nay, mệnh giá tiền vàng mới được tính như công thức trên. Ngày xưa, tính tiền đồng theo công thức ấy, dẫn đến sự bất tiện trong khi mang theo (Vì giá trị lớn phải đi đôi với khối lượng lớn. Nói cụ thể là phải gánh bằng quang thúng, chở bằng xe, khi cần sử dụng một số tiền đồng có giá trị lớn trong mua bán).
Trong những người tâu xin bỏ lệnh cấm nhân dân sử dụng tiền sềnh này, có những người yêu nước, trung nghĩa, đã trở thành anh hùng liệt sĩ trong lịch sử như Hoàng Diệu, Lâm Hoành (Hoằng)…
Xem trích đoạn nguyên văn trong ĐNTL.CB., sđd., số trang ghi trên. ----

++ Sứ bộ sang Pháp, Pháp khoản tiếp tốt; nay bố chính sứ Bình Thuận Trần Lưu Huệ đến Gia Định tặng vật phẩm đáp lễ.
(sđd., tr. 180).
++ Sứ bộ sang Xiêm: Nguyễn Hiệp (tức Nguyễn Trọng Biện), Đinh Văn Giản. Đồng thời, lại đưa Hồ Khác Hài sang Xiêm (Thái Lan) học chữ và học tiếng.
(sđd., tr. 182 – 183).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Thu thuế mỏ sắt.
(sđd., tr. 183).
++ Vua hỏi Nguyễn Tăng Doãn, Nguyễn Thành Ý việc sang Tây.
Nguyễn Tăng Doãn tâu:
1. Pháp tăng cường quân đội, kinh tế để trả thù Phổ (Đức).
2. Pháp có bến tàu buôn bán khắp các châu (kể cả Phi, Mỹ), gồm 15 sở. Trong đó, Nam Kỳ là lớn nhất.
3. Nước Pháp đã thành nước dân chủ, có quốc hội lưỡng viện (thượng, hạ viện). Mọi vấn đề không thể quyết định ở quốc trưởng được.
4. Các nước Phương Tây đang liên kết với nhau.
Và tập tâu khác: về kĩ nghệ tàu chạy hơi nước, xe lửa, các phong tục (nhảy đầm, ngoại tình…).
Vua giáng Nguyễn Tăng Doãn về hàm cũ là tả tham tri, vẫn lãnh thượng thư; Nguyễn Thành Ý bị cách, lưu nhiệm.
(sđd., tr. 183 – 186).
Có lẽ Tự Đức bị chạm nọc do cơ chế dân chủ ở Phương Tây (riêng về lãnh vực cơ chế chính trị)!
++ Nhật báo Hương Cảng đưa tin ngoa về hậu duệ nhà Lý nước ta câu kết với giặc ở Thái [Nguyên]. Tướng Pháp ở Gia Định sợ trở ngại việc thương mại, đưa thư tỏ ý đánh giúp. Quan Nha Thương bạc viết thư đáp, rằng giặc đã trốn xa.
(sđd., tr. 187).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) bàn định về Bùi Viện, Nguyễn Hữu Thục… trong sự rắc rối tiền nong thâm thủng, mặc dù xác định rằng họ có lòng đảm đương công việc. Nguyễn Trọng Hợp nhận chức thay Nguyễn Hữu Thục.
(sđd., tr. 187).
++ Phùng Tử Tài (tướng nhà Thanh) đem 26 doanh quân sang nước ta đánh giặc Lý Dương Tài (làm phản).
(sđd., tr. 189).
++ Hoắc Đạo Sinh (Philastre) dâng thư chúc nhân dịp Tết Nguyên đán nước ta.
(sđd., tr. 189 – 190).
++ Vua bàn cùng các quan thuộc Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường về việc các tỉnh Bình Định, Phú Yên đói kém và cách chẩn cứu. Bộ Hộ tâu đáp lời.
(sđd., tr. 190 – 191).
++ Trước đây, tổng đốc Định – Yên Nguyễn Trọng Hợp dâng tập tâu về sự thiếu hụt và nhũng tệ. Điều tra: Quan nguyên bố chính sứ Nam Định là Vũ Khoa, và Sơn Phòng sứ Nam Định là Dương Khuê, có vay mượn… Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường được dụ xét xử. Một số quan lại bị thi hành án.
(sđd., tr. 192).

36) Tự Đức năm thứ 32, Kỉ mão (1879): 56 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Năm nay gặp tiết thất tuần đại khánh của Từ Dũ, vua và hoàng thân, văn võ đình thần đến cung Gia Thọ chúc mừng. Ban ân chiếu.
(ĐNTL.CB. tập 34, sđd., tr. 193 – 195).
++ Lê Bá Thận phải tội, bị giam ở lao Thừa Thiên; đến khi lâm bệnh nặng, cho về nhà; nay đã chết.
(sđd., tr. 195).
++ Thuyền buôn Pháp thương mang theo súng ống, không nộp cho quan tấn thủ (quan giữ cửa biển). Quan Cơ mật viện – Thương bạc cho là trái “hòa” ước, bàn thương thuyết với lãnh sự Pháp.
(sđd., tr. 196).
++ Tuần phủ Trị – Bình Vũ Khoa, Sơn phòng sứ Hà Nội Dương Khuê (nhà thơ) bị cách chức, cho làm việc chuộc tội. Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường phụng dụ, xét nghĩ (công tố viên, phải vận dụng đúng luật). Nội các đổi nghĩ (thay đổi quyết nghị), vua gia ân. Dân Quảng Trị ái mộ Vũ Khoa (người Hương Thuỷ, Thừa Thiên) kí tên vào đơn và bỏ ra 15.000 quan tiền, kêu ở Công chính đường, xin tha cho Vũ Khoa. Đình thần không cho. Vũ Khoa và Dương Khuê đều phải đi làm việc chuộc tội.
(sđd., tr. 197 – 198).
++ Phan Sĩ Thục: tuần phủ Trị – Bình.
(sđd., tr. 198).
++ Nguyễn Thành Ý xin đem học trò đã được chọn phái đi học cơ khí ở cửa biển Thu Long (Trung Hoa). Quan Cơ mật viện – Thương bạc sợ mất quan cách (thể diện quan) của Nguyễn Thành Ý. Vua so sánh với quan Tây, và cho rằng thánh nhân (Khổng, Lão) cũng làm tiểu lại, có nhục gì đâu.
(sđd., tr. 198 – 199).
+++ Tháng hai âl..
++ Tàu công nước Anh đến Hải Dương. Pháp cản Phạm Phú Thứ tặng quà, khoản đãi. Phạm Phú Thứ không nghe. Quan Cơ mật viện – Thương bạc cho rằng khoản tặng còn ít, xin chiểu lệ tặng tàu Pháp, nhưng lại hậu hĩnh hơn để bày tỏ thiện cảm với Anh, khỏi bị Pháp độc quyền (ngoại giao, thương mại, thông tin…).
(sđd., tr. 203).
+++ Tháng ba âl..
++ Chuẩn định lệ xét xử người đốc thu thuế, lãnh trưng thuế.
(sđd., tr. 209 – 210).
+++ Tháng ba nhuận âl..
++ Người Thanh muốn dẫn người Nhật Bản đến buôn bán ở các đảo Quảng Yên.
(sđd., tr. 212).
++ Vua Tự Đức khen Pham Thận Duật am hiểu, hòa nhã. Tự Đức phê phán quan khoa đạo hiểu lầm ý vua, và khẳng định là không phân biệt Nam, Bắc khi dùng người.
(sđd., tr. 212 – 213).
+++ Tháng tư âl..
++ Định lại điều lệ cấm gạo ở Bắc Kỳ (cấm xuất khẩu gạo).
(sđd., tr. 216).
++ Khuyến khích cử hiền tài, định phép thi. Tự Đức lưu ý đến sự am hiểu tình hình quốc tế và công kĩ nghệ.
(sđd., tr. 217 – 218).
++ Quan Bộ Hộ bàn về thuyền vận tải.
(sđd., tr. 220 – 221).
++ Tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ mật tâu về việc người buôn Tây, Hoa, bọn Hán gian mưu gây biến ở Bắc Kỳ. Theo tham biện Sở Thương chính (linh mục Nguyễn [Hữu] Cư): Người buôn Tây có tên là Mô Răng Đi Ni (?) đã báo cho biết như vậy. Lí do: Nước ta cấm buôn nghiêm mật, chúng sinh oán, đã chung nộp tiền mua súng ống. Nguồn tin dân gian cũng thế. Lãnh sự Pháp cũng có ý ấy. Do nghe ngóng được vậy, Phạm Phú Thứ xin bỏ cấm xuất khẩu gạo 2 hoặc 3 tháng. Vua bảo: Thương ước đã thỏa thuận; tình hình hậu duệ nhà Lê vẫn ổn; việc cấm xuất khẩu gạo là tùy tình hình sản xuất; do đó, Phạm Phú Thứ chỉ nói thác việc… Khâm phái ngự sử Dương Quán tâu hặc: Phạm Phú Thứ cho người Thanh lén mua, xuất cảng gạo; giám đốc Hải phòng Lương Văn Tiến (anh em ngoại với Phạm Phú Thứ) cậy thế chở gạo ra nước ngoài. Tự Đức chuẩn cho Lê Điều, Trần Văn Úc ra điều tra. Phạm Phú Thứ vẫn tâu báo cho Cơ mật viện về ý đồ muốn định lại thương ước, chiếm thành Hà Nội của lãnh sự Pháp Công Tăng Tinh (Constantine). Vua cho rằng Phạm Phú Thứ đọa triều đình; nếu có thật thì cũng phải làm cho ổn thỏa, đừng gây khích biến để chứng tỏ lời mình là đúng.
(sđd., tr. 221 – 223).
++ Đường quan Bộ Hộ, Bộ Binh và Nguyễn Trọng Hợp (tuần phủ Nam Định) bị giáng cấp, lưu nhiệm vì thuyền đi tuần giặc bắn, cướp.
(sđd., tr. 225).
+++ Tháng năm âl..
++ Lê Đình Tuấn: thương biện Cơ mật viện sự vụ.
(sđd., tr. 227).
++ Sứ bộ Nguyễn Hiệp sang Xiêm về, báo cáo tình hình: 1. Xiêm nghị hòa với 9 nước: Phú, Y Pha Nho (Espagnol) Phổ (Đức), Mỹ, Bút ([Bồ?] Portugal ?), Ý, Bồ (Portugal), Hà Lan… (*), nhưng nước Anh vẫn cầm trịch… Do đó, không mất đất, mất quyền (!?). 2. Về lãnh sự Pháp (Phú) ở Xiêm: không muốn cho Đại Nam giao thiệp rộng.
(sđd., tr. 233 – 235).
---- (*) Đúng ra, còn có thêm: Bỉ, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. Đến 1898: Nga (Russia). Tổng cộng: 12 nước (xem Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương Ninh, Võ Mai Bạch Tuyết, “Lịch sử thế giới cận đại”, tập 3, sđd., tr. 392). ----
+++ Tháng sáu âl..
++ Tướng Pháp La Phong (Lafont) về nước, Lư Mi Đa (Le Myre de Vilers) sang thay.
(sđd., tr. 236).
++ Hoắc Đạo Sinh (Philastre) về nước, Lê Na (Rheinart) sang làm khân sứ ở kinh đô Huế.
(sđd., tr. 236).
++ Bộ Binh, Bộ Công xin đúc súng. Vua bảo hoãn, đợi quan Cơ mật viện – Thương bạc nghĩ cách chọn phái người đi học phương pháp đúc mới.
(sđd., tr. 236).
++ Tôn Thất Thuyết bị bệnh, về Thanh Hóa điều trị. Có chỉ dụ, khỏi thì về kinh. Nay ông dâng sớ xin bàn việc với quan tỉnh. Vua bảo: Tôn Thất Thuyết có chứng nóng vội chưa khỏi; cứ tạm làm việc với quan tỉnh.
(sđd., tr. 236 – 237).
++ Tha thuế cho 18 xã, động ở Quảng Yên.
(sđd., tr. 237 – 238).
++ Nguyễn Hữu Độ tâu bày một số vấn đề. Vua cho là nói dễ, làm khó, chớ khoe khoang. Nguyễn Hữu Độ xin tự đương chức kính lí tuần tuyên. Vua đồng ý.
(sđd., tr. 239 – 242).
++ Xét mộ người học chữ Tây, công nghệ Tây.
(sđd., tr. 248).
+++ Tháng bảy âl..
++ “Đại Nam thực lục đệ tam kỉ” (kỉ Thiệu Trị) đã được khắc in xong.
(sđd., tr. 254).
++ Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường tâu xin tha giảm án cách chức cho Đinh Hội (72 tuổi). Nhờ vậy, Đinh Hội chỉ bị giáng chức.
(sđd., tr. 259).
++ Trần Đình Túc (*), Nguyễn Hữu Độ bị vua trách vì tư báo cho lãnh sự Pháp không hợp quy định giữ bí mật (Hoàng Tá Viêm, Phùng Tử Tài chuyển quân; Pháp ngờ sợ, hỏi việc).
(sđd., tr. 260).
---- (*) Khảo sát cho đến cuối đời Trần Đình Túc, sẽ thấy ông là một vị đại quan mặc dù chủ hòa nhưng vẫn có lòng trung thành với triều Nguyễn và yêu nước. Trong trường hợp này, chỉ có Nguyễn Hữu Độ là kẻ đã làm tay sai cho Pháp; và bản chất của y càng bộc lộ rõ ở những năm về sau. Xin xem tiếp, “hồi sau sẽ rõ”. ----
+++ Tháng tám âl..
++ Cơ mật viện – Thương bạc được lệnh viết thư hỏi Pháp: Về âm mưu gây biến theo lời đe dọa của Mô Răng Đi Ni (?); về Kê La Đích (Kergaradec, lãnh sự ở Hà Nội) báo cáo với Phủ súy Pháp việc ta cấm xuất khẩu gạo khiến cho con buôn Tây oán hận; về nhật báo nước ngoài đưa tin Pháp đem thuyền chiến đến nước ta. Để giải quyết sự hiềm khích giữa Pháp và ta (Phạm Phú Thứ ưu đãi cho người buôn nước Thanh [Trung Hoa], khó ngặt với người buôn Tây), quan Cơ mật viện – Thương bạc xin thay Phạm Phú Thứ. Vua không chuẩn, chỉ mật dụ cảnh cáo Phạm Phú Thứ, khuyên đừng nên khích biến.
(sđd., tr. 262).
(xem lại: sđd., tr. 221 – 223).
Xin lưu ý: Viện – Bạc xin điều động Phạm Phú Thứ về triều, thay bằng Lê Điều (một người có tinh thần chống Pháp).
++ Pháp muốn đuổi Lưu Vĩnh Phúc khỏi Bảo Thắng (tỉnh Hưng Hóa). Nguyễn Hữu Độ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Huy Kỷ, Hoàng Tá Viêm tâu, ý kiến khác nhau. Đình thần phê phán Phạm Phú Thứ, Nguyễn Hữu Độ, đặc biệt cho rằng Nguyễn Hữu Độ theo “lời của tay buôn lão luyện mưu lợi” (người buôn Pháp…). Ở thời điểm này, triều đình đã biết rõ bản chất xấu xa của Nguyễn Hữu Độ.
(sđd., tr. 263 – 265).
++ Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tăng Doãn (người Quảng Trị) chết.
(sđd., tr. 267).
+++ Tháng chín âl..
++ Thượng thư Bộ Lễ Đỗ Đệ, hữu tham tri Bộ Lại Hoàng Diệu sung làm chánh phó sứ toàn quyền bàn định thương ước với sứ thần Y Pha Nho Đôn Man Cô Ra Đô Ni (Ordonnez [?]).
(sđd., tr. 271).
++ Quân ta và quân Thanh bắt sống được tên tướng làm phản Lý Dương Tài, giải hắn về Trung Hoa.
(sđd., tr. 271 – 272).
++ Miễn giảm thuế cho hạ du Bắc Ninh.
(sđd., tr. 273).
+++ Tháng mười một âl..
++ Quan ở Nội các là nhóm Bùi Ân Niên tâu: Xin nghiêm cấm tiền giả của người buôn nước Thanh (Trung Hoa). Đình thần duyệt bàn, đề xuất biện pháp khiến cho con buôn người Hoa tự bỏ vì thấy không lợi nếu đúc tiền giả đem sang, và dùng cả biện pháp hình luật.
(sđd., tr. 279 – 280).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Phạm Thận Duật có tang, ở quê, nay về kinh, tâu về việc trồng trọt cứu đói bằng các loại rau củ. Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường thông báo cho các tỉnh.
(sđd., tr. 284 – 285).
++ Thương ước Đại Nam – Tây Ban Nha (Y), gồm 12 khoản.
(sđd., tr. 290 – 295).
++ Tổng đốc Hải – Yên Lê Điều xin để Phạm Phú Thứ ở lại Hải Dương vài tháng để giúp ông am hiểu công việc.
(sđd., tr. 296).

37) Tự Đức năm thứ 33, Canh thìn (1880): 57 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Lê Na (Rheinart) vào triều làm lễ chúc mừng.
(ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 297).
++ Tôn Thất Tĩnh: hữu tham tri Bộ Hộ.
(sđd., tr. 297).
++ Giảm thuế cho Quảng Nam.
(sđd., tr. 298).
++ Ban bút nghiên cho Lê Na (Rheinart).
(sđd., tr. 298).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) bàn về việc xin định lại lệ trừng phạt về sổ sách chi tiêu ẩn lậu số mục.
(sđd., tr. 303).
+++ Tháng hai âl..
++ Định lệ nhất thiết nghiêm cấm tiền dị dạng.
(sđd., tr. 304).
++ Thái tử thiếu bảo, tổng đốc Nghệ – Tĩnh Nguyễn Chính: thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần
(sđd., tr. 306).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Chính và Phạm Thận Duật (?) (*).
---- (*) Theo một số tư liệu, Phạm Thận Duật đã vào Cơ mật viện – Thương bạc từ năm này. ----
++ Khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) xin đặt Nha Điện báo Bắc Kỳ. Viên ngoại lang Bộ Công Lê Văn Xuân cùng phái viên các tỉnh khám xét, làm việc.
(sđd., tr. 327).
++ Vua trách Phạm Phú Thứ nghe lời Pháp xin cho khai mỏ (trái “hòa” ước, vì lên thượng du, đến các tỉnh) và xin bỏ cấm buôn gạo.
(sđd., tr. 328).
++ 7 huyện thượng du Hải Dương đói kém.
(sđd., tr. 328).
++ Hà Nội đói. Nghệ An, Sơn Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên … có nhiều người chết đói.
(sđd., tr. 329 – 330).
+++ Tháng ba âl..
++ Thi hội: đầu đề về chia đều thuế ruộng ở Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 330).
++ Pháp bắt được giặc biển người Hoa.
(sđd., tr. 331).
++ Phan Đình Bình (bố chính sứ Bắc Ninh) gần đây dâng sớ tâu về tình hình chấp hành thuế ruộng chia đều (ruộng công, ruộng tư bằng nhau) và về khoản thu thêm thuế ruộng tư, mỗi hộc thêm một bát cho nghĩa thương (quỹ cứu đói). Tập tâu có nhiều điểm tỏ ra bất đồng với chủ trương. Đến nay, quan Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tâu: “Ruộng công là của dân, mà thuế so ra có phần nặng; ruộng tư phần nhiều do bọn cường hào gian ác chiếm riêng, mà thuế so ra có phần nhẹ” ; nay đổi ra thuế chia đều là muốn cho dân nghèo khỏi bị bọn cường hào áp chế và để thống nhất trong cả nước; còn phần thuế ruộng tư thu thêm là để làm quỹ cứu đói; chỉ có bọn đàn anh giàu có ở Bắc Ninh kêu ca mà thôi! (*).
(sđd., tr. 332 – 333).
Đây là một nét tích cực lớn của thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường. Xin xem nguyên văn ĐNTL.CB., sđd., số trang đã ghi.
++ Viết thư cảm ơn lãnh sự ở Gia Định về việc đưa giúp dân Quảng Ngãi bị giạt vào đảo Côn Lôn trở về.
(sđd., tr. 337).
++ Đinh Hội: phó đề đốc quân thứ Ngãi – Định.
(sđd., tr. 337).
+++ Tháng tư âl..
++ Thu quyển thi hội, chuẩn bị thi đình. Vua Tự Đức bảo: “Chủ khảo cốt phải được người [giỏi, công bằng – ct.], thì học trò mới phục” (nguyên văn), nên chuẩn lấy Nguyễn Văn Tường làm chủ khảo.
(sđd., tr. 338, tr. 340).
++ Phạm Ý chết.
(sđd., tr. 338).
++ Hà Nội đói.
(sđd., tr. 339).
++ Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Công nhận xét thành lũy tỉnh Lạng Sơn quá rộng, khó giữ.
(sđd., tr. 339).
++ Tự Đức bảo Bộ Hộ cần xem xét: bọn lãnh trưng thu thuế quá đáng, không khỏi hại dân.
(sđd., tr. 339 – 340).
++ Thự hiệp biện đại học sĩ, lãnh thượng thư Bộ Hộ, Kì Vĩ bá Nguyễn Văn Tường và tả tham tri Bộ Hình Lê Đình Tuấn sung chức đọc quyển; Bùi Văn Quế, Hà Văn Quan: duyệt quyển. Đây là kì thi điện (thi đình). Đỗ tiến sĩ: Nguyễn Đình Dương…; đồng tiến sĩ: … Hoàng Văn Hòe…
(sđd., tr. 340).
++ Lê Na (Rheinart) (khâm sứ Pháp tại kinh đô) không được thăm xét mỏ than ở Quảng Nam, bèn giả thác ra việc mật, tâu thẳng lên vua, ngầm gièm quan Viện – Bạc đại thần ăn của lót trả ơn của người Hoa, ngờ người Pháp có mưu đồ gì khác… Quan Viện – Bạc xin đưa thư cho Phủ súy Pháp và gửi kèm bản sao thư của Lê Na (Rheinart) gồm các lời vu khống kể trên. Vua Tự Đức cho rằng: Lê Na (Rheinart) nói không phải (nói sai); chủ súy Pháp và Lê Na (Rheinart) cũng đều bênh nhau; vậy ta nên nhịn sự nhỏ để khỏi lỡ việc lớn, mới là khéo xử; nhưng cần bí mật thông tư cho Nguyễn Thành Ý để NguyễnThành Ý nói cho chủ súy y biết.
(sđd., tr. 341).
++ Pháp vẫn cố tình ngăn trở nước ta thông sứ hữu nghị với Xiêm. Quan Cơ mật viện – Thương bạc đem khoản 3 “hòa” ước ra để đấu tranh. Pháp lẫn bịa việc, ngăn trở!
(sđd., tr. 341 – 342).
+++ Tháng năm âl..
++ Lãnh sự Pháp ở Hải Dương tâu về việc lạm thu thuế gỗ do người Hoa lãnh trưng.
(sđd., tr. 346).
++ Tổng đốc Hải – Yên Lê Điều tâu: xin thuê người Tây làm nhân viên dẫn thủy; ông lại vẽ bản đồ đường sông và lòng sông dâng lên (giao Viện Cơ mật giữ).
(sđd., tr. 346 – 347).
++ Tướng súy Pháp ở Gia Định Ngu My Đa (?) về Pháp, Lê My (Le Myre de Vilers) sang thay.
(sđd., tr. 347).
++ Trần Đình Túc về hưu.
(sđd., tr. 349).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đường cảng ở sông Vĩnh Định thuộc Hải Lăng, Quảng Trị (đoạn chảy qua Đa Nghi, Hội Yên, Đan Quế, Kim Long, Kim Giao) bị bồi nông. Khơi vét đã xong.
(sđd., tr. 351).
++ Tha giảm thuế năm nay và năm trước cho 5 châu tỉnh Hưng Hóa.
(sđd., tr. 351 – 352).
++ Đỗ Đệ, Hồ Trọng Đỉnh (Liễn [?]) giao thương ước với sứ thần Y Pha Nho (Espagnol).
(sđd., tr. 352).
++ Tướng súy Pháp cung tiến cá sấu.
(sđd., tr. 352).
+++ Tháng bảy âl..
++ Định rõ lại lệ cấm tiền dị dạng (tiền sềnh).
(sđd., tr. 355 – 356).
++ Lãnh sự Pháp xin mua gạo xuất khẩu. Quan Viện – Bạc là nhóm Trần Tiễn Thành (*) xin bỏ cấm 2 tháng ở 4 tỉnh không mất mùa (Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương) như một cách quyền nghi! Vua cho.
(sđd., tr. 356).
---- (*) Quốc sử quán triều Nguyễn xác định rõ danh tính Trần Tiễn Thành (đứng tên ở tập tâu) trong sự việc cụ thể này. Cơ số bình thường ở Viện – Bạc gồm 4 đại thần và 12 tham biện, tư vụ… ----
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường chước định điều lệ thu thuế quan.
(sđd., tr. 360 – 361).
++ Quan Viện – Bạc nghị xử thuộc viên của điển nông sứ Phan Trung: 2 thuộc viên này tự tiện giết người.
(sđd., tr. 363 – 364).
Được giao nhiêm vụ công tố viên, quan Viện – Bạc phải vận dụng đúng luật (tội danh, mức án). Quyền đổi nghĩ (thay đổi quyết nghị), vua có thể giao cho đình thần. Quyền ân giảm luôn luôn thuộc về nhà vua.
+++ Tháng tám âl..
++ Phạm Phú Thứ và Lê Tiến Thông về kinh đợi án, xin vào bái yết. Vua không cho và quở trách rất nặng: Phạm Phú Thứ thiên vị, kiêu ngạo, không chịu sửa đổi; Lê Tiến Thông ỷ vào người bà con bên ngoại (Phạm Phú Thứ)…
(sđd., tr. 364 – 365).
+++ Tháng chín âl..
++ Vũ Trọng Bình vào kinh, yết kiến. Vua hỏi về Bắc Kỳ. Ông tâu đáp: “Lòng người đều muốn được yên, nhưng cho lòng người có thể tin cậy, tôi là người ngu cũng chưa dám chắc”
(sđd., tr. 368 – 369).
++ Nguyễn Văn Tường bị lời gièm, xin trả việc ở Bộ Hộ. Người tâu (Tôn Thất Thuyết) cho rằng: Nguyễn Văn Tường tâu xin bỏ cấm tiền dị dạng, để cùng bọn người buôn tiền ấy chia lợi, mọt nước hại dân; dân kinh đô đồn rầm lên. Vua Tự Đức dụ: Tôn Thất Thuyết ít học, không thông, nóng nảy, nói càn, không đáng kể đến; lời đồn ở kinh đô cũng không có căn cứ…; không thể dẹp lời gièm ở đời, xưa nay đều thế, nên có câu: “Chống rét không gì bằng cách mặc hai lần áo” ; dẹp lời gièm không gì bằng cách luôn luôn tu tỉnh. Vua không cho từ chức, đổi chức.
(sđd., tr. 370).
(xem lại: sđd., tr. 176 – 177).
Hoàng Diệu, Lâm Hoành (Hoằng), Đàm Khắc Nhượng, Đoàn Dao là 4 người khởi đầu việc tâu xin bỏ lệnh cấm sử dụng tiền sềnh (tiền dị dạng). Chẳng lẽ Hoàng Diệu, Lâm Hoành… là đầu mối ăn của đút lót của bọn người Hoa buôn tiền sềnh? Và đã bao nhiêu lần đình nghị (cả triều đình bàn luận) thử bỏ lệnh ấy và lại cấm lệnh ấy!
Thật ra, chính nhân dân Huế bị bọn “giặc miệng giáo dân” lừa bịp (De Champeaux quyết đập tan tành uy tín Nguyễn Văn Tường); Tôn Thất Thuyết mới từ Thanh Hóa vào, cũng vô tình mắc mưu ấy.

++ Tự Đức bảo đình thần: Trần Tiễn Thành già yếu; do đó đọng việc ở Bộ Binh…
(sđd., tr. 370 – 371).
++ Hồ Trọng Đỉnh: tả tham tri Bộ Hộ, kiêm coi Viện Đô sát.
(sđd., tr. 371).
+++ Tháng mười một âl..
++ Tự Đức sai quan tỉnh Hải Dương thưởng cấp phái viên Pháp (ngoại giao!).
(sđd., tr. 383).
++ Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường trước đây nghe viên ngự y Đỗ Văn Tuyển nói về mạch vua: Tì kém, cần “thiên sinh ô truật”. Vì vậy, khi gửi mua thuốc cho mình, ông gửi mua cùng loại ấy để đồng thời tiến lên vua. Vua cho là vua tôi cùng bệnh, càng thương nhau.
(sđd., tr. 388).

XV. THỜI TIẾP TỤC LÀM THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN QUẢN LÍ SỰ VỤ NHA THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN CỤC THUYỀN CHÍNH (VẪN HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ BÁ)

++ Theo lời tâu xin của Bộ Hộ, đình thần đã bàn, nay bắt đầu lập ra Cục Thuyền chính để đảm đương việc phát triển, điều hòa kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu là quản lí, điều hành các thuyền trong nước. Chu Đình Kế, Lê Tiến Đức đảm nhiệm. Hai ông tâu bày về sự khởi đầu khó khăn. Do đó, Nguyễn Văn Tường sung làm kiêm quản đại thần.
(sđd., tr. 388 – 393).
++ Lãnh đề đốc quân thứ Tuyên Quang Trần Mân (trước đây cùng Nguyễn Văn Tường đánh thắng giặc ở Thanh Dã, Thái Nguyên) vừa mới chết.
(sđd., tr. 394 – 395).
++ Vũ Trọng Bình hưởng ứng việc lập Cục Thuyền chính, nên được đổi bổ làm tổng đốc [Nam] Định – [Hưng] Yên, kiêm trông coi việc tuần tiễu, vận tải ở phía Bắc.
(sđd., tr. 395).
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường lo việc thu mua bạc đĩnh, bạc lạng, bạc đồng và có biện pháp khuyến khích nộp thuế lãnh trưng bằng bạc để chi dùng cho việc quân ở biên giới phía Bắc.
(sđd., tr. 396).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Khởi công làm thêm nhà lợp ngói ở của biển Thuận An (Thừa Thiên), theo lời tâu xin của quan ở Nha Thuyền chính.
(sđd., tr. 404 – 405).
++ Bộ Hộ của Nguyễn Văn Tường dâng sổ kế toán về đinh điền, tiền thóc, vàng bạc trọn năm.
(sđd., tr. 406).

38) Tự Đức năm thứ 34, Tân tị (1881): 58 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Tạm thuê thuyền nước Thanh ra Bắc tải gạo.
(ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 5).

XVI. THỜI THÔI GIỮ CHỨC ĐẠI THẦN QUẢN LÍ SỰ VỤ NHA THƯƠNG BẠC; VẪN ĐẢM NHIỆM VÀ KIÊM QUẢN CÁC CHỨC VỤ CŨ: THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN CỤC THUYỀN CHÍNH (VẪN VỚI HÀM HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ, TƯỚC HIỆU KÌ VĨ BÁ)

++ Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường thôi làm quản lí Thương bạc sự vụ. Bùi Ân Niên (Bùi Dị) thay thế.
(sđd., tr. 6).
---- (*) Có lẽ cũng nên trích dẫn một đoạn báo cáo của De Champeaux gửi Phủ súy Pháp tại Gia Định: “Hôm qua tôi đã tiếp kiến quan Thương bạc. Ông đến báo cho tôi biết là ông đã từ chức thượng thư Ngoại giao… Tôi không ngờ việc vận động nhỏ của tôi chống thượng thư đó lại có kết quả nhanh đến thế… Vì thấy rằng không thể mở rộng các mối quan hệ chính trị nếu cứ phải giao thiệp với quan Thương bạc mãi, tôi đã nghĩ phải buộc ông ta từ chức và [buộc] thay ông ta bằng một người ít chống đối ảnh hưởng của ta hơn… Quan Thương bạc vẫn còn là thượng thư Bộ Hộ và thứ trưởng Viện Cơ mật. Với tư cách sau, ông vẫn còn có thể chống đối chúng ta. Muốn thoát nạn, ta còn phải đập ông tan tành cả ở phía ấy” (De Champeaux, gửi thống đốc Nam Kì, từ Huế, 06.02.1881 [mùng tám Tết Nguyên đán Tân tị], AOM. Aix, Amiraux 12923, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB. KHXH.TU. Tp. HCM. xb., 1993, tr. 270). Xin khảo chứng, đối chiếu với bài dụ của Tự Đức, ngày 19.5 âl., TĐ. 34 [1881] (trích từ: Thơ văn Tự Đức, tập II, “Ngự chế văn tam tập”, bài “Đuổi viên hành nhân Nguyễn Hoằng” (linh mục), Nxb. Thuận Hóa, 1996, tr. 176 – 177).
Tuy vậy, với chức năng Cơ mật viện đại thần, gọi đầy đủ từ ngữ là đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc hay gọi tắt là quan Viện – Bạc (một nhóm người, thường là tứ trụ triều đình), Nguyễn Văn Tường vẫn tiếp tục góp phần chỉ đạo về công tác đối ngoại (xem: ĐNTL.CB. ,tập 35, sđd., tr. 39). ----

++ Nhờ Pháp thử nghiệm quặng và than mỏ. Tự Đức bảo quan Cơ mật viện – Thương bạc: “Mọi việc mượn [nhờ] người [Pháp], tóm lại như giấc mơ mộng, không có kì nào được nên việc” (nguyên văn); phải tự trù tính làm việc.
(sđd., tr. 6).

Tạm hết PHẦN 1 của CHƯƠNG SÁU.
Xin xem tiếp PHẦN 2 của chương sáu này
ở tệp 6.


Xin lưu ý: Trong cuốn sách này, người biên soạn (Trần Xuân An) có sử dụng một số từ ngữ khá cũ, theo bản dịch của Viện Sử học. Chắc hẳn Tổ Phiên dịch VSH. có dụng ý gợi lại hơi hướm ngôn ngữ Việt thế kỉ XIX. Người biên soạn cũng học tập theo tinh thần ấy (có nhiều từ ngữ phải chua thêm). Tuy nhiên, về khía cạnh trình bày, tôi cố gắng thực hiện thật sáng rõ, rạch ròi từng đề mục, kể cả loại tiểu mục, tránh nhược điểm trình bày kiểu “hủ nút” ở bản in (nhà xuất bản KHXH.) thời thập niên 60, 70 / XX… (Phải chăng có dụng ý đối với ĐNTL.CB., một bộ sách mà một số “sử gia Đàng Ngoài, maoism” có thế lực xếp vào loại “phổ biến hạn chế” ?)
Người biên soạn kính mong được sự phê bình, góp ý, chỉ bảo của người đọc.
TXA.

Việt Nam, TP. HCM.,
Thứ hai (thứ ba cũ), chiều ngày 07-02 HB6 ( 2006 )
[ mùng 10 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]: xếp chữ xong phần 1 chương sáu.
Trần Xuân An.

4.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KÌ VĨ PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 4)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)

(tiếp theo)
(Tệp 4)

D. CHƯƠNG NĂM

X. THỜI LÀM PHÓ SỨ BỘ 1873, KÍ “HÒA” ƯỚC GIÁP TUẤT 1874.


+++ Tháng năm âl. (Quý dậu, 1873).
++ Triệu tập Lê Tuấn (kinh lược), Nguyễn Văn Tường (tán lí), Trần Hy Tăng (đang ở nhà nuôi mẹ già ốm, tạm xin nghỉ) về kinh đô. Nguyên do: tướng nước Pháp ở Gia Định đưa thư yêu cầu ta nhượng hẳn cho chúng 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ bằng “hòa” ước, mặc dù chúng đã chiếm từ 1867 (thư gửi từ tháng giêng âl. năm này). Đình thần sợ rằng đó là ý tướng Pháp ở Gia Định, không phải ý quốc trưởng Pháp, xin đưa sứ bộ sang Ba Lê (Paris) hỏi, về báo cáo, rồi tính liệu sau. Vua cho là phải, nên có lệnh dụ triệu tập trên.
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 293).
+++ Tháng sáu âl..
++ Vua ngự ở Điện Văn Minh, triệu Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường vào, từng người một, để hỏi tình hình biên giới phía Bắc.
Lê Tuấn được hỏi về việc biên giới ở Hải Dương, Quảng Yên.
Lê Tuấn trình bày về 3 tổng: 1 ở bãi cát biển, 2 ở hải đảo. Ba nơi ấy tàu thuyền đi đến để đánh giặc đã khó, giặc lại dễ trốn. Hải Dương lại quá nhiều đường sông; cách Quảng Yên, Nam Định chỉ một ngày đường, lại có đến 7, 8 cửa biển…
Nguyễn Văn Tường được hỏi: Việc biên giới Bắc Kỳ sao lâu rồi vẫn không xong? Nguyễn Văn Tường trình bày: Thượng du nước độc, lam chướng nhiều; quân nhiễm bệnh lắm. Vua: Kĩ nghệ quân sự của quân Thanh có hơn gì ta, sao giặc lại sợ? Nguyễn Văn Tường: Quân Thanh phần lớn là người thượng du, đã quen sơn lam chướng khí. Vua: Không nên dùng quân quá 3 năm, mà nay đã 4, 5 năm; làm sao xong việc dẹp giặc phỉ? Nguyễn Văn Tường: Đã hết lòng hết sức, nhưng thế và lực không thể sớm xong được. Vua: Mong yên phía Bắc để tính việc khác, không ngờ kéo dài đến thế…
Vua bảo Bộ Binh (Trần Tiễn Thành): Giặc có súng thần công kiểu mới, súng lục kiểu Tây, vỏ đồng, bắn nhanh; hỏi mua ở đâu, để kịp mua dùng?
Vua lại triệu Lê Tuấn vào, hỏi về Hoàng Tá Viêm và Lê Hữu Thường. Lê Tuấn tâu nhận xét. Vua lại hỏi về vùng Cát Bà. Lê Tuấn đáp: Đó là nơi giặc giấu của cải cướp được và người Thanh ở đấy tiêu thụ giúp.
(sđd., tr. 300 – 303).
++ Sứ bộ sang Tây: Lê Tuấn (thượng thư), Nguyễn Văn Tường (tạm mang hàm tham tri), Nguyễn Tăng Doãn (hồng lô tự khanh, sung làm tham biện). Sứ bộ sẽ vào Gia Định hội đàm với toàn quyền đại thần Pháp Du Bi Lê (Dupré) để định “hòa” ước trước (*), rồi sau đó sẽ sang Pháp.
(sđd., tr. 304).
---- (*) Ngày 16 tháng 6 nhuận, âl., sứ bộ về cửa biển Thuận An. Hôm sau, ngày 17, lên tàu khởi hành vào Gia Định. ----
+++ Tháng sáu nhuận âl..
++ Đoàn thuyền Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) đậu mãi ở Hà Nội, quyết mở việc kinh doanh thương nghiệp. Mặc dù ta đã gửi thư cho tướng Pháp tại Phủ súy Gia Định, Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) vẫn không chịu rút. Y bảo, nếu Du Bi Lê (Dupré) cản y, y sẽ không còn là người Pháp nữa, và sẽ rủ người nước khác đến Bắc Kỳ. Nguyễn Tri Phương cho là lời nói của Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) có ý hăm dọa, tâu vào triều đình. Bỗng tuần vũ Nghệ An Tôn Thất Triệt bắt được thư Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) liên lạc về việc góp vốn để “buôn” từ Bắc Kỳ lên Vân Nam (thư Đồ Phổ Nghĩa [Jean Dupuis] trả lời)! Người y gửi thư là giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier) ở Nghệ An! Vua sai gửi thư cho tướng Pháp và sai sao bức thư Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) cho Nguyễn Tri Phương và các quan tỉnh Bắc Kỳ (bản dịch của tỉnh Nghệ An), để phòng bị.
(sđd., tr. 305 – 307).
++ Tổng đốc Hoàng Văn Tuyển (tỉnh Bình Định) xin mở lò đúc tiền. Vua cho. Người buôn thuộc nước Thanh liền chở tiền giả thông đồng với Hoàng Đình Quan (chủ lò). Lập tức bãi bỏ.
(sđd., tr. 306 – 307).
++ Đồ Phổ Nghĩa (Dupuis) thông đồng ngầm với giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh khi y lên Hưng Hóa.
(sđd., tr. 306).
++ Khâm phái Phan Khắc Kiệm đến 9 châu ở huyện Thành Hóa, Quảng Trị cấp vải, muối (Lào đã chiếm mất 3 châu vào năm trước).
(sđd., tr. 309).
++ Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ bị bắt trói đưa về kinh nghị xử. Nay phát đi quân thứ Tuyên Quang.
(sđd., tr. 309 – 310).
++ Ngụy Khắc Đản chết.
(sđd., tr. 312).
+++ Tháng bảy âl..
++ Đồ Phổ Nghĩa (J. Dupuis) vẫn tiếp tục gây hấn: Câu kết với bọn người Hoa gian thương (Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình), câu kết với giặc Cờ vàng Hoàng Anh, đánh nguyên đốc học Lê Đình Diên, bắn chết lí trưởng ở Kim Liên; chở muối gạo, vận tải súng đạn lên Vân Nam. Cơ mật viện tâu xin bắt giam Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình ở Sơn Tây. Vua dè dặt, sợ khích biến, nên giao cho Nguyễn Tri Phương xét kĩ.
(sđd., tr. 321).
+++ Tháng tám âl..
++ Thư tổng đốc Quảng Đông (Trung Hoa) và thư triều đình Đại Nam bàn luận về Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)…
(sđd., tr. 322 – 324).
++ Nguyễn Tri Phương ủy nhiệm bố chính Vũ Đường mời Đồ Phổ Nghĩa (J. Dupuis) đến Sứ quán Hà Nội. Hai thuộc viên của y (Uông Sư Đa [?], Hà Sằn [George Vlavianos?]) đi thay.
(sđd., tr. 324).
++ Binh bộ hữu tham tri Phan Đình Bình sung làm khâm sai ra Bắc, để cùng Nguyễn Tri Phương xử trí vụ Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis). Vua dặn, ý rất dè dặt, sợ sinh biến.
(sđd., tr. 325).
++ Nguyễn Tri Phương tâu: Đồ Phổ Nghĩa (J. Dupuis) gây hấn bằng cách làm càn, khiêu khích ở Sơn Tây (nơi hộ đốc Trần Bình trấn nhậm). Vua dặn, chớ sa vào mưu kế của hắn.
(sđd., tr. 327 – 328).
++ An Nghiệp Ngạc Nhe (Françis Garnier) đến Đà Nẵng, Nguyễn Khoa Luận, Trần Văn Quỳnh, Nguyễn Văn Thi được lệnh vua đón tiếp, và theo y ra Bắc, ngỡ là để giải quyết vụ Đồ Phổ Nghĩa (J. Dupuis), như trước đó, Đồ Phổ Nghĩa (J. Dupuis) đã gửi thư báo. Khi Ngạc Nhe (Françis Garnier) đã đến Hà Nội, y đợi Nguyễn Tri Phương, bố chính Hà Nội Vũ Đường và lãnh binh quan Nguyễn Đăng Nghiễm ra khỏi thành đón tiếp y tại quán trọ, y liền dẫn quân xông thẳng vào thành, rất ngang ngược. Quyền suất đội Nguyễn Đăng Viên phải bị cách chức, về quê. Dẫu thế, An Nghiệp (Françis Garnier) vẫn được trú ở trường thi Hà Nội!
(sđd., tr. 328 – 329).
++ Một viên quan năm Pháp, chỉ huy 5 chiếc thuyền, y cùng thuyền tiếp tục đến Đồ Sơn. Quyền tổng đốc Hải Dương Đặng Xuân Bảng ủy nhiệm phái viên đến thăm hỏi, và tâu vào triều. Nhóm Trần Tiễn Thành bàn với vua: Chẳng qua bè lũ chúng dùng cách thức hăm dọa để cho điều ước chóng thành. Nhóm Trần Tiễn Thành cũng chỉ mong cho ổn thỏa!
(sđd., tr. 330 – 331).
+++ Tháng chín âl..
++ Hà Nội, Nam Định hoãn kì thi hương văn, võ.
(sđd., tr. 331).
++ Lê Tuấn ốm, ở lại Gia Định. Vua sai thầy thuốc đến chữa, sai trung sứ (*) mang thuốc vào. Tập tâu của Lê Tuấn: Xin đổi người làm chánh sứ. Thư Du Bi Lê (Dupré): Không muốn đổi người. Vua cũng không cho đổi, lục chỉ bảo sứ thần phải tuân theo lệnh dụ trước đây.
---- (*) Trung sứ: người đi lại giao liên giữa triều đình và sứ bộ. ----
(sđd., tr. 333).
++ Thự tả tham tri Bộ Lại Nguyễn Chính (Chánh): Thương bạc đại thần. Tự Đức ra dụ về quyền hạn và chức năng (phải hội bàn với các đại thần, mặc dù Thương bạc đại thần cũng như “tổng lí”, theo danh từ nhà Thanh sử dụng để gọi cơ quan tương tự ở nước Thanh).
(sđd., tr. 335).
+++ Tháng mười âl..
++ Phạm Phú Thứ trước đây (tháng năm âl.) bị giáng chức, nay được trả lại: thượng thư Bộ Hộ.
(sđd., tr. 335).
(xem lại: sđd., tr. 296 – 297).
++ Phái viên nước Pháp An Nghiệp (Françis Garnier) đánh phá thành Hà Nội (ngày mùng 1 tháng 10 âl., Quý dậu, Tự Đức năm thứ 26 [1873]): An Nghiệp (F. Garnier) tự thị làm điều ước, giao quan Hà Nội niêm yết. Các quan bảo chưa có lệnh. An Nghiệp (F. Garnier) tấn công. Nguyễn Lâm, con trai Nguyễn Tri Phương, chết. Bản thân Nguyễn Tri Phương bị thương và bị giặc bắt. Tổng đốc Bùi Thức Kiên, án sát Tôn Thất Trắc trốn thoát. Cai tổng Đức bắt Bùi Thức Kiên đem nộp, lãnh 100 quan tiền thưởng! Pháp bắt Phan Đình Bình (khâm Phái), Vũ Đường (bố chính), Đặng Siêu (đề đốc), Nguyễn Đăng Nghiễm (lãnh binh) đưa về Gia Định. (Về sau, Nguyễn Văn Tường hết sức cứu gỡ, mới được tha, về Huế cùng chuyến tàu thủy với Nguyễn Văn Tường). Tự Đức biết là do Du Bi Lê (Dupré) chỉ đạo cho An Nghiệp (F. Garnier); bảo triều thần thông báo cho Nguyễn Văn Tường, nói với Du Bi Lê (Dupré): Hãy trả thành Hà Nội rồi định điều ước. Và vua phái một số quan đến Hà Nội tổ chức phòng bị, chiêu tập binh dõng. An Nghiệp (F. Garnier) bấy giờ tự tiện đặt quan chức theo sự lựa chọn của y. Đó là bọn tay sai, cơ hội. Vua liền chọn người của triều đình, phái đến: Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Đặng Văn Huấn, Trương Gia Hội, Phan Đề, Hoàng Đôn Điển, Nguyễn Đức Thực. Ngoài ra, Trương Gia Hội phải đưa đi theo giám mục Bình (Bohier), linh mục Đăng (Dangelzer) (2 người này ở nhà thờ Kim Long, Huế). Cả ba cùng ra tới Thanh Hóa, rồi cùng Trần Đình Túc ra Hà Nội. Pháp lại chiếm phủ Lý Nhân, 2 huyện Hoài Đức, Gia Lâm. Hồ Uy, Nguyễn Chính được phái ra Tam Điệp (Thanh Hóa – Ninh Bình). An Nghiệp (F. Garnier) ngày càng ngang ngược, đặt quan chức một cách bừa bãi để làm tay sai cho Pháp.
(sđd., tr. 336 – 339).
++ Tàu của Pháp đến Hưng Yên (nơi tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, án sát Tôn Thất Phiên [Phan] trấn nhậm)…
(sđd., tr. 339).
++ Ngày 14-10 âl., tàu thủy Pháp đến Hải Dương. Tình thế cũng như ở Hà Nội. Pháp đánh ngay. Ngày 15 âl., Pháp chiếm tỉnh thành. Lê Hữu Thường, Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Đại trốn thoát!
(sđd., tr. 339 – 340).
++ Ngày 16-10 âl., tàu Pháp đến Ninh Bình. Nguyễn Thứ ra đón tiếp. Pháp dắt tay Thứ vào thành! Đến cửa thành, giặc bắn vào quan binh trong thành. Và thành mất!
(sđd., tr. 340).
++ Đường trạm Nam – Bắc bị chặn, bị cướp công văn.
(sđd., tr. 340).
++ Từ Ninh Bình, tàu thủy Pháp đến Nam Định. Nguyễn Hiên, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Văn Lợi chận đánh ở đồn Độc Bộ, nhưng không thắng, phải rút. Ngày 21, sáng sớm, tàu Pháp chạy trên sông Vị Hoàng, bắn vào thành. Thành Nam Định mất.
(sđd., tr. 340).
++ Vua mật sai Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết chọn 1.000 quân, kéo về Từ Sơn (Bắc Ninh).
(sđd., tr. 341).
++ Trần Đình Túc ngẫu nhiên bị bệnh. Nguyễn Chính thay làm khâm sai phỏng định thương ước toàn quyền.
(sđd., tr. 341 – 342).
++ Tự Đức sai Cơ mật viện – Thương bạc viết thư trách Du Bi Lê (Dupré). Đình thần bàn: Thâm tâm Du Bi Lê (Dupré) muốn sinh sự để làm sức ép, buộc ta kí “hòa” ước. Khi sứ bộ lên đường, có chỉ dụ phải đấu tranh buộc Pháp trả lại ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ (An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long) mới định “hòa” ước, hoặc ít ra Pháp cũng phải trả lại cho ta 1, 2 tỉnh. Sứ bộ đến nay vẫn chưa được giao ấn và sắc toàn quyền (khác với sứ bộ Phan Thanh Giản, hồi 1862). Đình thần xin vua thuận theo ý Du Bi Lê (Dupré).
(sđd., tr. 342).
++ Nghe tin Lê Tuấn được cấp ấn và sắc toàn quyền, Nguyễn Văn Tường làm phó, Du Bi Lê đến chỗ sứ bộ tạm trú để tỏ ý chúc mừng (xã giao!). Sứ bộ yêu cầu trả 4 tỉnh Bắc Kỳ và An Nghiệp (F. Garnier) phải rút ngay khỏi đất Bắc Kỳ, mới định “hòa” ước. Du Bi Lê (Dupré) viết thư ra (2 bản: 1 bản phát đi theo đường bộ, 1 bản giao cho Nguyễn Văn Tường mang về trình Tự Đức). Nguyễn Văn Tường cùng Hoắc Đạo Sinh (Philastre) và 4 quan chức (khâm phái, quan tỉnh Hà Nội) cùng đi tàu thủy ra Đà Nẵng, rồi theo đường bộ ra Huế. Bốn viên quan đó là Phan Đình Bình, Vũ Đường, Đặng Siêu, Nguyễn Đăng Nghiễm, vốn bị Pháp bắt ở Hà Nội, lúc Hà Nội thất thủ, đưa vào Gia Định trước đây.
(sđd., tr. 342 – 343).
++ Phan Đình Bình ra Huế trước, tâu bày: Mặc dù đang bị bắt, Phan Đình Bình cũng đã cùng các sứ thần (Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn) thuyết phục, biện bác với Du Bi Lê (Dupré). Do đó, Du Bi Lê (Dupré) chịu trả Hà Nội, và y đã gửi thư cho An Nghiệp Ngạc Nhe (Garnier) rút quân. Khi xuống tàu, lại được tin 3 tỉnh kế tiếp nhau mất! Nguyễn Văn Tường yêu cầu Pháp phải trả cả 4 tỉnh . Du Bi Lê (Dupré) đồng ý. Và tiếp đó, sau khi Phan Đình Bình tâu bày, Hoắc Đạo Sinh (Philastre) cùng Nguyễn Văn Tường và các quan khác đến Huế. Hoắc Đạo Sinh (Philastre) chỉ được lệnh Du Bi Lê (Dupré) ra đến Huế rồi lại vào Gia Định cùng Nguyễn Văn Tường, để định “hòa” ước. Bị thuyết phục (kể cả viên trưởng tàu thủy người Pháp), Hoắc Đạo Sinh (Philastre) đồng ý và cùng Nguyễn Văn Tường ra Hà Nội. Vua muốn Phan Đình Bình đi theo. Nguyễn Văn Tường ngại là An Nghiệp (F. Garnier) vốn có ác cảm với Phan Đình Bình (vì y ngờ Phan Đình Bình, khi bị giải giao vào Gia Định, đã chỉ trích y trước mặt Du Bi Lê [Dupré]). Khi An Nghiệp (F. Garnier) có ác cảm như thế, sẽ đâm ra hỏng việc. Và Phan Đình Bình được lệnh dụ ở lại Huế. Vua lại sai Thương bạc viết thư cho Du Bi Lê (Dupré) để y biết; đồng thời cũng sai viết thư cho Hoắc Đạo Sinh (Philastre) để y theo kế hoạch đã bàn mà tiến hành.
(sđd., tr. 343 – 344).
++ Tăng cường phòng thủ Thuận An, Tư Hiền (Thừa Thiên) và các nơi khác.
(sđd., tr. 344 – 345, tr. 346).
++ Thự Binh bộ hữu tham tri Nguyễn Hữu Lập: Thương bạc đại thần.
(sđd., tr. 345).
+++ Tháng mười một âl..
++ Khi bọn Pháp đón tổng đốc Hà – Ninh Trần Đình Túc, tuần phủ Hà Nội Nguyễn Trọng Hợp, án sát Trương Gia Hội, lãnh binh Hoàng Đôn Điển và Bình (Bohier, giám mục), Đăng (Dangelzer, linh mục) vào thành Hà Nội, bấy giờ, bọn Hán gian được An Nghiệp (F. Garnier) sử dụng toan gây biến.
(sđd., tr. 348 – 349).
++ Nguyễn Tri Phương tử tiết.
(sđd., tr. 349).
++ Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết đưa quân Lưu Vĩnh Phúc về đóng ở Hương Canh (Từ Liêm, Hà Nội). Ngày 02-11 âl., Lưu Vĩnh Phúc khiêu chiến. An Nghiệp (F. Garnier) đang bàn định điều ước thương mại với Trần Đình Túc, vội mang quân ra nghênh chiến. Lưu Vĩnh Phúc vờ bỏ chạy. An Nghiệp (F. Garnier) thúc ngựa đuổi theo. Đến Ô Cầu Giấy, Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy quân đánh phục kích. An Nghiệp (F. Garnier) và 4 tên Pháp chết tại trận.
(sđd., tr. 349 – 350).
++ Vua Tự Đức vui mừng khi nghe tin, nhưng vẫn chỉ dụ Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết cho Lưu Vĩnh Phúc rút quân. Bọn Pháp hết hồn phách, vẫn cứ ngoan cố.
(sđd., tr. 351).
++ Trần Đình Túc sợ Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết quá hăng hái, hỏng việc, bảo Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội ra gặp, bàn chuyện.
(sđd., tr. 351).
++ E Mi (Esmez) được Du Bi Lê (Dupré) cử thay An Nghiệp (Françis Garnier), vào ngày 06-11 âl..
(sđd., tr. 351).
++ Theo phép ngoại giao, vua tặng khánh vàng cho Du Bi Lê (Dupré).
(sđd., tr. 352).
++ Khi Trần Đình Túc ốm, vua định thay bằng Nguyễn Chính (*). Nay vẫn như dụ trước. Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp sẽ cùng Nguyễn Văn Tường định điều ước tạm tại Hà Nội. Nguyễn Chính vẫn đóng quân tại Thanh Hóa để trấn áp.
(sđd., tr. 352).
---- (*) Nguyễn Chánh – người Bình Dương, Nam Kỳ. ----
++ Quân gian tặc Thiên Chúa giáo cướp đồ thờ ở đền Sùng Sơn (núi Tam Điệp, Thanh Hóa). Quan quân ở đấy không đánh dẹp ngay, liền bị giáng cấp.
(sđd., tr. 353 – 354).
++ Sau hai ngày đi trên biển, từ Đà Nẵng, Nguyễn Văn Tường, Hoắc Đạo Sinh (Philastre) và tùy tùng đã đến cửa sông Cấm (hải Dương). Tàu mắc cạn, phải thuê thuyền nhỏ đến Hải Phòng, nhưng bị giặc biển chặn đường, phải trở về. Chợt nghe tin An Nghiệp Ngạc Nhe (Françis Garnier) bị giết, Hoắc Đạo Sinh (Philastre) và bọn Pháp đập tay xuống bàn, tức giận. Nguyễn Văn Tường bình tĩnh, thong thả, ung dung biện thuyết, cho là An Nghiệp (Garnier) chết không phải do quân của triều đình Đại Nam. Cuối cùng, theo tính toán của Nguyễn Văn Tường, Pháp cho tàu thủy Đề Ta Di (Decrès) đi đánh hải tặc, và tàu thủy Đát Tờ Di (D’Estrées) đến Hải Dương, định niêm yết cáo thị: Pháp đã thuận ý trả thành. Ngày 08-11 âl., phái đoàn hai bên đến Hải Phòng. Ngụy tổng đốc Trương mưu tính bắt cóc Nguyễn Văn Tường để phá hỏng việc (Trương là thợ rèn, theo Thiên Chúa giáo, đích thực là Việt gian). Nguyễn Văn Tường nghe tin do thám, biết sự thể, bàn với Hoắc Đạo Sinh (Philastre) bắt tên Trương, giải xuống tàu thủy giam lại. Nguyễn Văn Tường thông báo cho Bắc Ninh, Hưng Yên đem quân ta đến.
(sđd., tr. 355 – 356).
++ Ngày 12-11 âl., Pháp trả thành Hải Dương.
(sđd., tr. 356, tr. 357).
++ ngày 15-11 âl., khi đến Hà Nội, Nguyễn Văn Tường bàn với Hoắc Đạo Sinh (Philastre) để Pháp trả luôn Nam Định, Ninh Bình. Hoắc Đạo Sinh (Philastre) cũng thuận theo. Trần Đình Túc, Trương Gia Hội đi nhận lại các tỉnh. Vua khen Nguyễn Văn Tường, giao việc định thương ước cho ông. Du Bi Lê (Dupré) đưa thư: Sẽ định thương ước tại Gia Định.
(sđd., tr. 357 – 358).
++ Nguyễn Chính về Hà Nội để trấn áp.
(sđd., tr. 358).
++ Vua thưởng bọn Pháp để khích lệ chúng chóng trả tỉnh, thành (theo phép ngoại giao!).
(sđd., tr. 358).
++ Bọn Pháp thuộc quân An Nghiệp (F. Garnier) ngờ Hoắc Đạo Sinh (Philastre) nhận của hối lộ từ triều đình Đại Nam.
(sđd., tr. 359).
++ Sau 3 ngày, phái đoàn hai bên bàn định các tạm ước mới xong. Ngay sau đó, Hoắc Đạo Sinh (Philastre) liền giải tán một vạn hai (12.000) quan lính ngụy Bắc Kỳ, cả giáo lẫn lương (tất nhiên đa số là tín đồ Thiên Chúa giáo do Puginier cung ứng), làm tay sai cho An Nghiệp (Garnier).
(sđd., tr. 359).
++ Ngày 25-11 âl., ta nhận thành Hà Nội. Quân Pháp rút về Sở Hải phòng tại Hải Dương, kể cả đoàn tàu thủy của Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis).
(sđd., tr. 359).
++ Lê Na (Rheinart) đến Hà Nội, thay Hoắc Đạo Sinh (Philastre).
(sđd., tr. 359).
++ Bốn tỉnh Bắc Kỳ, Pháp đã trả xong. Tình trạng lương, giáo thù nhau lại bùng lên gay gắt, trộm cướp nổi dậy…
(sđd., tr. 359 – 360).
++ Quan cũ bốn tỉnh Bắc Kỳ có lệnh chịu trói, bị giải về kinh đô Huế.
(sđd., tr. 359).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Thưởng cho tán tương Trương Quang Đản và các quan đánh dẹp được bọn Việt gian và giặc Pháp (200 tên Việt gian bị chém; 6 tên Pháp cũng bị bắn hoặc bị chém chết).
(sđd., tr. 361 – 362).
++ Cơ mật viện tâu: Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn ở Gia Định gửi công văn về, giục Nguyễn Văn Tường vào cùng Hoắc Đạo Sinh (Philastre) để kịp định ước, bởi Du Bi Lê (Dupré) sắp về Pháp. Vua bảo Cơ mật viện: Nguyễn Văn Tường giải quyết việc nào xong, việc nào còn lại, bàn giao cho ổn thỏa; khi Nguyễn Văn Tường và Hoắc Đạo Sinh (Philastre) vào, phải ghé Đà Nẵng, đi đường bộ ra Huế; Nguyễn Văn Tường trả và nhận lệnh rồi mới vào Gia Định. Vua mật dụ thêm cho Nguyễn Văn Tường: Vấn đề xung đột lương – giáo; vấn đề Pháp sử dụng, cất đặt bọn Việt gian Bắc Kỳ làm quan (phải loại bỏ hết, nếu được; còn nếu đành nhân nhượng bọn Pháp, cũng chỉ chấp nhận cho tay sai của chúng ở chức quan nhỏ, và chỉ một vài tên).
(sđd., tr. 362 – 363).
++ Dụ cho Nguyễn Chính về việc xử trí lương – giáo, vấn đề bọn Việt gian Bắc Kỳ, cũng như đã dụ cho Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 363 – 364).
++ Dụ từ kinh đô Huế: Cử người hiền tài bỏ sót.
(sđd., tr. 364 – 365).
++ Xét nghĩ về Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm (công, tội, tình…).
(sđd., tr. 367 – 368).
++ Nguyễn Văn Tường đã hẹn ngày về (ngày 26 – 27-12 âl.,) nhưng vẫn còn vấn đề lương – giáo, phải xử trí. Nguyễn Văn Tường lại ngã bệnh, nên công việc đành chậm lại. Vua dụ cho Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn, gồm các khoản:
- Nếu cần, sứ bộ cứ sang Tây;
- Việc ở Bắc Kỳ, bàn giao cho Lê Na (Rheinart) và Nguyễn Chính, Trần Đình Túc;
- Phải đợi Nguyễn Văn Tường vào Gia Định mới kí “hòa” ước;
- Cố gắng định liệu “hòa” ước cho lâu dài;
- Xem xét việc Pháp đền bù cho ta về những thiệt hại gần đây.
Nói chung, Tự Đức đã dụ rõ: Điều ước đã chuẩn cho tiến hành kí kết, xong hay không, đi Pháp hay khỏi đi, là tùy Du Bi Lê (Dupré) và sứ bộ Đại Nam; riêng khoản chấp nhận có sự hiện diện thường trú của viên khâm sứ Pháp tại kinh đô Huế, phải đợi 1, 2 năm, sau khi đã mở văn phòng lãnh sự Pháp ở cửa biển Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 368 – 370).

31) Tự Đức năm thứ 27, Giáp tuất (1874): 51 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Thống sát Pháp Hoắc Đạo Sinh (Philastre) cùng khâm sai Nguyễn Văn Tường về đến Sứ quán Huế. Theo lời Nguyễn Văn Tường, Hoắc Đạo Sinh (Philastre) rất có lòng với nước Đại Nam ta. Vua cử người (quan Viện – Bạc) đến thăm hỏi và ban một đạo dụ khen ngợi Hoắc Đạo Sinh (Philastre). Nguyễn Văn Tường cho viên linh mục làm thông ngôn (hành nhân) hỏi ý Hoắc Đạo Sinh (Philastre) để tặng quà đúng ý y. Hoắc Đạo Sinh (Philastre) đáp, đó là sắc dụ khen ngợi chính tay vua Tự Đức viết vào lụa, để làm của báu đời đời cho dòng họ của y. Ngoài ra, triều đình còn tặng y các loại vật phẩm khác.
(ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 8).
++ Hoãn kì thi hương văn, võ ở Hà Nội, Nam Định.
(sđd., tr. 8).
++ Nguyễn Văn Tường xin thay người làm phó sứ vào Gia Định, vì bản thân ốm bệnh. Vua rất lo vì “hòa” ước chưa định xong; liền đặc cách ban sâm quế vua dùng và xuống dụ cho thầy thuốc ngự y đến điều trị.
(sđd., tr. 9).
++ Bố chính sứ Bắc ninh Phạm Thận Duật thăng tuần phủ Hà Nội để giúp Trần Đình Túc.
(sđd., tr. 9).
++ Nguyễn Văn Tường và Hoắc Đạo Sinh (Philastre) vào Gia Định. Vua sai quan Viện – Bạc tiễn chân.
(sđd., tr. 9).
++ Vua mật dụ cho kinh lược sứ Nguyễn Chính và các quan tỉnh Bắc Kỳ: Xử trí vấn đề xung đột lương – giáo, và dẹp yên trộm cướp, theo cách Nguyễn Văn Tường vừa rồi.
(sđd., tr. 9 – 10).
++ Nguyễn Văn Tường và Hoắc Đạo Sinh (Philastre) đã đến Gia Định, lại cùng Lê Tuấn, Du Bi Lê (Dupré) định “hòa” ước.
(sđd., tr. 10).
++ Trần Tấn, Đặng Như Mai (quê ở Thanh Chương, Nghệ An, đều là tú tài) nổi dậy sát tả (đánh phá các giáo đường Thiên Chúa giáo [*]). Vua cho rằng “không hiểu việc biến đổi ở đời” (nguyên văn)! Trần Tấn, Đặng Như Mai trước đây đã bị quan quân triều đình bắt giam, và đã tha, nay lại nổi dậy, “bình Tây sát tả” (nhưng “sát tả” là cương lĩnh chủ yếu!). Tổng đốc Tôn Thất Triệt xin quân. Tổng thống Hồ Oai, tham tán Chu Đình Kế đem lính kinh (thuộc Bộ Binh, tức là quân chủ lực) hiện đang ở Thanh Hóa (600 người), lính Nghệ (500 người, đang phái) tiến đến Nghệ An.
(sđd., tr. 10 – 11).
---- [*] Sự kiện Văn thân Nghệ – Tĩnh, người biên soạn (Trần Xuân An) diễn đạt khác với ĐNTL.CB., mặc dù vẫn giữ nguyên vẹn tuyệt đối các chi tiết của sự kiện vốn đã được Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép lại. ----
++ Đặng Văn Kiều (người Hà Tĩnh, quang lộc tự khanh, Sử quán toản tu) sung làm khâm phái ra Nghệ hiểu dụ vấn đề lương – giáo.
(sđd., tr. 11).
++ “Hòa” ước mới định, gồm 22 khoản, thay thế “hòa” ước 1862 (Nhâm tuất, Tự Đức năm thứ 15). Đây là “hòa” ước 1874 (Giáp tuất, Tự Đức năm thứ 27) do Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và toàn quyền đại thần làm khâm sai cho quốc trưởng Pháp là Du Bi Lê (Dupré) – tổng thống Nam Kỳ thủy lục quân dân đại nguyên soái – cùng bàn định và kí tên, tại Phủ súy Gia Định ngày 27-01 âl., Giáp tuất, Tự Đức năm thứ 27 (15-03-1874). Có một số điều khỏan quan trọng hoặc cần lưu ý:
~x~ […]
~2~ Điều khoản 2: Đại Nam không thần phục nước nào; Pháp giúp Đại Nam tiễu phỉ và đánh ngoại xâm, nếu Đại Nam yêu cầu.
~3~ Điều khoản 3: Pháp can thiệp vàp chính sách ngoại giao của Đại Nam; Đại Nam vẫn có quyền quan hệ ngoại giao với các nước vốn có tình hữu nghị (thông sứ) trước đây, có quyền bàn định thương ước với bất kì nước nào nhưng vẫn bị thương ước với Pháp ràng buộc.
~4~ Điều khoản 4: Pháp tặng Đại Nam tàu chiến, súng đạn…; Pháp sẽ giúp Đại Nam về kĩ thuật quân sự và các công nghệ khác…
~5~ Điều khoản 5: Đại Nam nhượng đứt cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ (*), ngoại trừ phần mộ và ruộng tự điền của hai họ Hồ, Phạm vốn là họ ngoại của vua.
---- (*) Đây chỉ là việc hợp thức hóa sự đã rồi (Pháp chiếm cả Nam Kỳ lục tỉnh từ 1862 [“hòa” ước Nhâm tuất] và 1867 [Phan Thanh Giản nhượng bộ và tự sát]). ----
~6~ Điều khoản 6: Bỏ hết số tiền “bồi thường chiến phí” [!] mà Pháp ép buộc Đại Nam ở “hòa” ướcc 1862 (Nhâm tuất).
~7~ Điều khoản 7: Số tiền Pháp ép buộc bồi thường cho Y Pha Nho (Tây Ban Nha) sẽ khấu trừ dần vào thuế xuất nhập khẩu sau này…
~8~ Điều khoản 8: Bọn Việt gian làm tay sai cho thực dân Pháp, hoặc những người Pháp chống chủ nghĩa thực dân Pháp, giúp Đại Nam, đều được hai nước khoan hồng.
~9~ Điều khoản 9: Giáo sĩ Pháp và Y Pha Nho được tự do truyền đạo Thiên Chúa với các điều kiện rộng rãi (số nhà thờ, số người hội họp, xem lễ…); và giáo dân được đi thi, được làm quan cho triều đình Đại Nam, được bình đẳng và không bị sỉ nhục…
~10~ Điều khoản 10: Đại Nam được mở trường dạy học ở 6 tỉnh Nam Kỳ, nhưng do quan Pháp quản lí; nội dung giảng dạy không được có tư tưởng chống Pháp; sĩ tử có quyền tế tự ở Văn miếu.
~11~ Điều khoản 11: Mở cửa biển Thị Nại ở Bình Định, Ninh Hải ở Hải Dương; thông thương trên sông Hồng từ cửa biển đến Hà Nội, lên đến Vân Nam (Trung Hoa), với thương ước kèm theo “hòa” ước này.
~12~ Điều khoản 12: Đại Nam chỉ định nơi cư trú, buôn bán cho người Pháp, dân thuộc địa của Pháp, các người Âu Tây khác, và cả với người Tân lục địa châu Mỹ; họ được lưu thông buôn bán trên sông Hồng, được quyền thuê sức lao động của người dân Đại Nam.
~13~ Điều khoản 13: Pháp đặt chức lãnh sự Pháp ở các cửa biển đã khai thương với số lính Pháp bảo vệ không quá 100 tên…
~x~ […]
~16~ Điều khoản 16: Lãnh sự Pháp có quyền xét xử ưu tiên người Pháp phạm lỗi trên nước Đại Nam.
~17~ Điều khoản 17: Sự bất bình đẳng trong việc xét xử, do quyền tòa án Pháp được ưu tiên hơn…
~x~ […]
~20~ Điều khoản 20: Đại Nam và Pháp đặt khâm sứ ở kinh đô hai nước, sau một năm kể từ ngày kí kết “hòa” ước này.
(sđd., tr. 12 – 22).
Đó là một cưỡng ước mà Pháp dùng sức mạnh quân sự và tả đạo Thiên Chúa giáo để ép buộc triều đình Đại Nam phải chấp nhận một cách thua thiệt và chua xót.
++ Du Bi Lê (Dupré) về nước Pháp, Kha Răng (Krantz) sang thay.
(sđd., tr. 22).
++ Vua treo thưởng cho việc bắt Trần Tấn, Đặng Như Mai.
(sđd., tr. 23).
++ Theo thủ tục ngoại giao, vua Tự Đức thưởng cho tướng Pháp, các quan lính Pháp và giám mục Bình (Bohier), linh mục Đăng (Dangelzer), giáo sĩ Hoằng (người Hà Tĩnh). Nguyễn Văn Tường xin thưởng cho thuộc viên Nội các Nguyễn Đăng Ngoạn (lãnh trước tác), Đoàn Như Bích (lãnh biên tu), mùa đông năm ngoái, Quý dậu (1873 – đầu năm 1874), được sung làm tùy phái đi ra Bắc Kỳ, làm việc đắc lực. Chức hàm của cả hai đều được lên ngạch thực thụ. Ngoài ra, lính đi theo hộ vệ được thưởng tiền lương một tháng.
(sđd., tr. 24 – 25).
++ Quan ở Cơ mật viện – Thương bạc vẽ bản đồ ranh giới Biên Hòa – Bình Thuận giao cho Pháp.
(sđd., tr. 25).
+++ Tháng hai âl..
++ Theo lời Nguyễn Văn Tường, việc Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết đốc xuất Lưu Vĩnh Phúc khích chiến, phục kích và giết chết An Nghiệp (F. Garnier) đã giúp Nguyễn Văn Tường thuận lợi khi thương thuyết. Nguyễn Văn Tường kiến nghị phong tước, trả chức quan cho hai tướng ấy. Vua đồng ý. Hoàng Tá Viêm: hiệp biện đại học sĩ, Địch Trung tử, thống đốc đại thần; Tôn Thất Thuyết: Binh bộ hữu tham tri, Vệ Chính nam, tham tán đại thần.
(sđd., tr. 26 – 27).
++ Lưu Vĩnh Phúc được phong chức quan Đại Nam: Phó lãnh binh quan quân thứ…
(sđd., tr. 27).
++ Tự Đức lại xuống dụ về vụ nổi dậy “sát tả” ở Nghệ An.
(sđd., tr. 28 – 30).
++ Cấp lại đồ kí, kiềm ngà cho tỉnh Hải Dương và các tỉnh bị quân Pháp đánh chiếm ở Bắc Kỳ (Pháp và bọn hôi của lấy, theo lời tâu bày của Nguyễn Văn Tường và quan tỉnh Ninh Bình).
(sđd., tr. 30).
++ Lê Tuấn (tiến sĩ, Hà Tĩnh [*]) chết ở Gia Định. Kha Răng (Krantz) đưa tàu thủy hộ tống linh cữu và sứ bộ (Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn) về Huế.
(sđd., tr. 35).
---- [*] Theo “Đại Nam liệt truyện”, tập 4, tiểu truyện Lê Tuấn, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 325: Lê Tuấn vốn bị bệnh hầu tì từ lâu, trước khi làm chánh sứ sứ bộ (Tổ Phiên dịch Viện Sử học Việt Nam chú thích: chưa rõ bệnh hầu tì là bệnh gì). ----
++ Vua ra dụ thương tiếc, truy tặng chức hàm và sai hoàng tử trưởng Ưng Chân đến tế linh cữu Lê Tuấn.
(sđd., tr. 35).
++ Trần Tấn, Đặng Như Mai chạy trốn lên rừng núi vì quân nổi dậy bị quan quân đánh tan. Vua thông báo cho Pháp và Thiên Chúa giáo biết.
(sđd., tr. 35 – 36).
++ Lê Na (Rheinart) vẫn còn hậm hực, rập rình tàu chiến ở Hà Nội.
(sđd., tr. 36).
+++ Tháng ba âl..
++ Trần Quang cán phối hợp với Trần Tấn, Đặng Như mai, chiếm được 8 phủ, huyện ở Nghệ – Tĩnh; lại liên kết với Nguyễn Huy Điển (tú Khanh, Hà Tĩnh), Trương Quang Thủ (đội Ngọc, Quảng Bình).
(sđd., tr. 37, tr. 39).
+++ Tháng tư âl..
++ Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn tiến lên vua 20 tập sách chữ Tây.
(sđd., tr. 42).
++ Lê Na (Rheinart) bị Cơ mật viện – Thương Bạc phê phán lấn quyền ở Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 54).
++ Lê Bá Thận sung làm khâm sai đại thần ra Nghệ – Tĩnh vì vụ “sát tả”.
(sđd., tr. 55).
++ Tự Đức cho rằng, việc cơ mật phần nhiều bị tiết lộ; giáng dụ để có cơ chế kiểm sát chặt chẽ, giữ bí mật tốt.
(sđd., tr. 56).

XI. THỜI LÀM THƯỢNG THƯ BỘ HÌNH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐƯỢC TẤN PHONG BÁ TƯỚC VỚI MĨ HIỆU KÌ VĨ (KÌ VĨ BÁ); LẠI ĐƯỢC CỬ LÀM TOÀN QUYỀN ĐẠI THẦN BÀN ĐỊNH THƯƠNG ƯỚC ĐẠI NAM – PHÁP 1874

+++ Tháng năm âl..
++ Tạm hàm sung như (:đi) Tây phó sứ Nguyễn Văn Tường đến lúc này mới được nhà vua tin cậy, thăng chức, phong tước: Hình bộ thượng thư, Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ bá tước (*). Hiệp biện đại học sĩ Trần Tiễn Thành cũng được thăng hàm: thự Văn Minh đại học sĩ (Trần Tiễn Thành có công tiến cử Nguyễn Văn Tường trong việc lấy lại 4 tỉnh Bắc Kỳ).
(sđd., tr. 58).
---- (*) Người biên soạn (Trần Xuân An) sẽ khảo sát thêm về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường qua danh xưng chức hàm trên trong “Đại Nam thực lục chính biên” các kỉ liên quan, kể từ đây. ----
++ Quan Viện Cơ mật Lê Bá Thận, viên ngoại lang Đồng Sĩ Vịnh… cùng thái giám Nguyễn Túc truyền và phụng sắc sai lầm, bị giáng cấp (việc cố đạo Pháp đến nhà thờ Kim Long, Huế).
(sđd., tr. 59 – 60).
++ Khâm sai Lê Bá Thận và Vũ Lã, Nguyễn Văn Thúy, Trần Văn Chuẩn, Đỗ Đệ hành quân ra đánh dẹp vụ “sát tả” ở Nghệ – Tĩnh.
(sđd., tr. 61).
++ Trần Hy Tăng: tuần phủ Bình – Trị. Vua dụ: Canh phòng, đánh dẹp, lo việc vận lương.
(sđd., tr. 61 – 62).
++ Nguyễn Văn Tường sung làm khâm sai đến Quảng Bình với Lê Bá Thận.
(sđd., tr. 62).
++ Đường giao thông, đường trạm bị nghẽn.
(sđd., tr. 62).
+++ Tháng sáu âl..
++ Nghị xử: án thất thủ Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình và cả vụ thất thủ Lạng Sơn trước đây (trong đó có Vũ Trọng Bình, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Văn Tường…).
(sđd., tr. 63 – 68).
(xem lại: ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 61 – 62).
++ Tuần phủ Sơn Tây sung tham tán Tôn Thất Thuyết đem quân vào Thanh Hóa, phối hợp với quan tỉnh (hộ đốc Thanh Hóa Tôn Thất Tĩnh, bố chính Hoàng Hữu Xứng, án sát tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến) đánh dẹp phong trào “sát tả” ở Nghệ – Tĩnh, nay đã lan ra đến Nông Cống, Thanh Hóa! Bấy giờ, quân thứ Quảng Bình do Lê Bá Thận chỉ huy cứ chần chừ, chưa tiến đánh. Vua dụ: Tăng cường Nguyễn Đình Thi, Trương Văn Đễ. Tôn Thất Thuyết tiến quân phối hợp, đánh toàn thắng trận, chém đầu “nghĩa binh” nổi dậy rất nhiều!!! Tôn Thất Thuyết tiến quân đánh tận Nghệ An, vào đóng quân ở trường thi xứ Nghệ; lại hội bàn với kinh lược sứ, sung tổng đốc An – Tĩnh, để cùng đánh.
(sđd., tr. 68 – 70).
---- (*) Xin xem kĩ đoạn này trong ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. [đã ghi trên]. ----
++ Nguyễn Văn Tường theo sắc dụ của vua, đi tàu thủy của Pháp (theo “hòa” ước 1874), cùng đem theo thuyền đánh cá, thuyền công, bắn vào các đồn quân nổi dậy “sát tả” ở Mũi Dao, Thần Đầu, Đèo Con, đốt sạch đồn trại. Quân nổi dậy [nghe bắn dọa] đã chạy tan. Lê Bá Thận cùng quân các đạo tiến đến phối hợp… Lê Bá Thận tố cáo Trần Đình Thức mạo khoe công: Thực ra, khi quan triều đình đến, quân nổi dậy đã bỏ chạy. Vua cho nghị xử; sau đó đình việc tưởng thưởng. Riêng Trần Đình Thức bị cách chức. Tự Đức dụ cho nhóm Lê Bá Thận: Quan quân triều đình được nhân dân ủng hộ, bày tỏ sự hối hận đã tham gia “sát tả”.
(sđd., tr. 77 – 78) (*).
---- (*) Xin xem kĩ đoạn này trong ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. [đã ghi trên]. ----
Đây là bi kịch của triều đình nhà Nguyễn, một triều đình vốn đã xác định “bình Tây sát tả” là quốc sách, và đồng thời cũng là bi kịch của phong trào Văn thân, một phong trào cũng chủ trương “bình Tây sát tả” (chủ yếu ở Nghệ – Tĩnh là “sát tả”! Sai lầm là ở đấy). Bi kịch này được khảo cứu ở hai góc độ khác nhau. Đó là sự mâu thuẫn, xung đột giữa “sách lược thỏa hiệp tạm thời với Pháp và Thiên Chúa giáo” của Tự Đức, đình thần, quan lại địa phương với cuộc nổi dậy “đánh Thiên Chúa giáo, đánh cả triều đình”, nhưng chủ yếu vẫn chỉ nhắm đến mục đích “sát tả”, vốn đã được xác định là tiên quyết, của các sĩ phu Trần Tấn, Đặng Như Mai… (*)
Mặc dù cuộc nổi dậy của phong trào Văn thân là rất nhiệt huyết, chính nghĩa, nhưng chỉ là liều lĩnh (?)…
Phong trào do Trần Tấn, Đặng Như Mai khởi xướng liệu có đảm dương được nhiệm vụ lịch sử, nếu giả định đánh đổ được triều Nguyễn trong bối cảnh các nước thực dân và Thiên Chúa giáo câu kết với nhau thành một liên minh ma quỷ, đồng loạt và cùng phân chia nhau xâm lược các nước Á – Phi – Mỹ la-tinh? Liệu Trần Tấn, Đặng Như Mai có làm được như Nhật Bản (**)?
---- (*) Xem thêm: Gs. Trần Văn Giàu, “Hệ ý thức phong kiến…”, Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 368 – 371.
(**) Nhật Bản là nước duy nhất nhanh chóng vươn lên thành cường quốc trong các quốc gia Á – Phi – Mỹ la-tinh, và trở thành phát-xít, cùng các nước đế quốc Phương Tây xâu xé các nước ở châu Á (…)! Ở đây, chỉ nói đến ý chí sa-mu-rai (võ sĩ đạo), truyền thống về hàng hải của dân quần đảo, biện pháp canh tân của người Nhật; và mặt khác, xin nói thêm, đất nước Nhật không phải là miếng mồi béo bở về các sản phẩm nông nghiệp (lúa, gạo…), về mặt tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ…) trước lòng tham của các nước thực dân Phương Tây… Đất nước Nhật, theo bọn thực dân Phương Tây nhận định, chỉ là cái bàn đạp, để chúng tiến vào châu Á lục địa! Do đó, Nhật thoát cảnh bị xâm lược, trở thành một nước phát-xít hung bạo, cướp bóc để vươn lên cường thịnh. (Xem thêm: Võ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Võ Mai Bạch Tuyết, “Lịch sử cận đại thế giới”, tập 1, Nxb. ĐH. & THCN., 1986, tr. 459 – 490).

++ Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường, thị lang Bộ Lại Nguyễn Tăng Doãn đều sung toàn quyền đại thần bàn định thương ước, lại đến Gia Định, cùng với toàn quyền đại thần Pháp Kha Răng (Krantz), hội định điều ước buôn bán. Nhân thể, quan Thương bạc tâu: Xin cho 2 sứ thần Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn bàn định về việc phân xử việc giáo dân Thiên Chúa giáo báo thù, việc đánh dẹp giặc biển Bắc Kỳ quấy nhiễu, theo “hòa” ước mới 1874.
(sđd., tr. 78).
++ Giặc biển Hải Dương (tên là Khách Công), với 40 chiếc thuyền, đánh phá các huyện và vây bức tỉnh thành. Phái viên Pháp La Đăng (Dujardin) không thực tâm đánh giúp theo “hòa” ước, mà chỉ quan tâm đến mỏ than! Vua phái Tôn Thất Thuyết và Lê Bá Thận từ hai tuyến, tiến về Hải Dương cứu viện. Cơ mật viện thương thuyết với Pháp, Pháp phải thực hiện “hòa” ước, đánh giúp, nhưng Pháp vẫn còn có ý nuôi dưỡng bọn giặc này để quấy phá, làm sức ép với triều đình.
(sđd., tr. 78 – 80).
+++ Tháng bảy âl..
++ Tướng Pháp Kha Răng (Krantz) sai Sô Ma Rô (?), và Sô Ma Rô cùng Nguyễn Tăng Doãn đến Huế tâu xin: Mở thêm phố buôn bán và đặt lãnh sự ở Hà Nội; ghi thêm vào thương ước điều khoản đó. Vua đồng ý.
(sđd., tr. 82).
++ Mùa đông năm ngoái (12 âl., Quý dậu [1873 – ‘’74 (*)]),Nguyễn Văn Tường xử trí bọn Việt gian và tả đạo làm tay sai cho Pháp bằng cách tạm cho phép tiếp tục làm quan (vốn do Pháp tuyển dụng, cất nhắc) để yên lòng phản trắc của chúng. Nay Trần Đình Túc xin vua tha cho chúng và tiếp tục dùng. Đó là 4 tên tiêu biểu: Phạm Quang Diêu, Lê Văn Tốn, Nguyễn Tích, Đỗ Đình Huyên. Chúng đã thú tội, cũng tỏ ra có cố gắng chuộc tội. Vua không cho. Cơ mật viện (lúc này Nguyễn Văn Tường đã vào Gia Định, hiện còn lại ở Huế: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Tư Giản, Phạm Phú Thứ) xin cứ sử dụng vì bọn Việt gian này có lắm đồ đệ tay chân, sợ sẽ thêm rắc rối. Đằng sau chúng lại có tên Pháp Kê La Đích (Kergaradec) bênh vực! Nhưng cuối cùng, chẳng bao lâu, chúng lại bị can án hoặc tự nghỉ việc (Diệu, Huyên).
(sđd., tr. 83 – 85).
---- (*) Xin đơn cử một ngày: 01-12 âl., năm Quý dậu, tức là ngày 18-01-1874. Như vậy, tháng cuối năm âm lịch lại gần trùng khớp với tháng giêng dương lịch; hay nói cụ thể là, năm Quý dậu vốn gần như song hành với năm 1873 nhưng lại có một tháng cuối năm Quý dậu bước sang năm dương lịch 1874. Trong trường hợp đó, người biên soạn ghi: 12 âl., Quý dậu (1873  ‘’74). ----
++ Pháp đánh giúp giặc biển. Vua trách Phạm Ý ỷ lại Pháp mà không tự đánh dẹp lấy.
(sđd., tr. 85).
++ Củng cố việc giữ bí mật quốc gia ở Cơ mật viện và Nội các; cải cách lề lối làm việc.
(sđd., tr. 86).
++ Thương ước gồm 29 khoản do Hình bộ thượng thư, Kì Vĩ bá, chánh sứ Nguyễn Văn Tường, và Lại bộ thị lang, phó sứ Nguyễn Tăng Doãn, cùng kí kết với khâm sai, tổng thống Nam Kỳ thủy lục quân dân, kiêm thống lãnh Đại Thanh – Nhật Bản lưỡng quốc ngoại dương chư binh thuyền đại nguyên soái Kha Răng (Krantz), hiện là toàn quyền đại thần của Pháp. Có các điều khoản quan trọng hoặc cần lưu ý sau đây:
~1~ Điều khoản 1: Mở cửa biển Ninh Hải (Hải Dương), đường thủy dọc sông Hồng lên Vân Nam (trung Hoa), phố Hà Nội, cửa biển Thị Nại (bình Định) cho thuyền buôn các nước thuộc bất kì quốc tịch nào.
~2~ Điều khoản 2: Định tỉ lệ phần trăm thuế xuất nhập khẩu, đặc biệt đối với các mặt hàng: muối, gạo, gỗ thiết mộc (lim…), tơ sống; cấm chuyên chở, buôn bán vũ khí, quân dụng.
~3~ Điều khoản 3: Định tỉ lệ phần trăm thuế (thuế suất) về khoản đèn chỉ đường, bỏ neo.
~4~ Điều khoản 4: Thuế suất ưu đãi 50% cho thuyền buôn Nam Kỳ ra Đại Nam và ngược lại.
~5~ Điều khoản 5: Thuế buôn bán đường bộ ở 2 tỉnh Biên Hòa thuộc Pháp và Bình Thuận thuộc Đại Nam.
~6~ Điều khoản 6: Pháp chọn quan người Pháp nhưng những người ấy chịu sự chỉ bảo của thượng thư Bộ Hộ Đại Nam về việc thực thi công tác thuế quan. Người Pháp mới được làm công việc này, không được thuê người Âu Mỹ nào khác, cho đến khi trả xong tiền bồi thường cho Y Pha Nho (Espagnol) và khi quan Đại Nam đã am hiểu công việc thuế quan ngoại thương này.
~7~ Điều khoản 7: Mỗi ti thuế quan đều có một quan Pháp và một quan Đại Nam điều hành. Hai quan này phải được thượng thư Bộ Hộ Đại Nam xét bảo và xét xử, nếu có vấn đề.
~x~ […] Ngoài ra, các điều khoản khác bàn định khá cụ thể, chi tiết về lương bổng, thu chi từ ngân khoản thuế thu được; về chức năng và đối tượng được làm người dẫn độ tàu thuyền ra vào cửa biển; về vai trò của các viên lãnh sự Pháp ở mỗi cửa biển; về sự chế tài bằng luật pháp; về đơn vị cân đo (lấy cân, thước Đại Nam làm chuẩn); về việc cứu hộ tàu thuyền bị nạn…
~25~ Điều khoản 25: Pháp có quyền phái tàu binh đến các cửa biển để đàn áp thủy thủ thuyền buôn, nếu cần thiết, và để tăng thêm uy lực cho viên lãnh sự Pháp.
~x~ […]
~28~ Điều khoản 28: Pháp có bổn phận đánh dẹp giặc biển, giặc đường bộ làm ngăn trở việc buôn bán.
~29~ Điều khoản 29: Thương ước này, kí kết ngày 20-7 âl., Giáp tuất, niên hiệu Tự Đức, năm thứ 27 (31-8-1874), đính kèm với “hòa” ước 1874 (15-3-1874)
(sđd., tr. 87 – 102).
++ Ngoài ra, lại có 2 tục nghị (phụ ước đính kèm thương ước):
1. Về phố Hà Nội, vốn đã cho người Tây (Âu Mỹ) đến buôn bán, phải có thêm một lãnh sự Pháp; về điều kiện lính Pháp bảo vệ lãnh sự; về quyền hạn và điều kiện hạn chế địa bàn cư trú của người Âu Mỹ (diện tích đất ở, mua bán nhà cửa…).
2. Chữa lại khoản 2 của thương ước: Thuế thu được từ thuyền buôn nước Trung Hoa theo thương ước đã kí kết là hoàn toàn thuộc về Đại Nam, nay chữa lại là thuế ấy cũng phải được sử dụng thu chi như số thuế thu được từ tàu buôn Âu Mỹ và từ tàu có nguồn gốc là thuộc địa Nam Kỳ của Pháp.
Lưu ý: Tục ước 1 kí ngày 20-7 âl., Giáp tuất (31-8-1874); tục ước 2 kí ngày 15-10 âl., Giáp tuất (23-11-1874); cách nhau hơn 2 tháng rưỡi.
(sđd., tr. 102 – 104).
Thương ước, tục ước đều là cưỡng ước!
++ Vua bảo tả, hữu tham tri Bộ Hình (lúc này thượng thư Nguyễn Văn Tường còn ở Gia Định): Phải tịch thu gia sản, định các mức tội lây cho thân thuộc các lãnh tụ quân nổi dậy ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (Trần Tấn, Đặng Như mai…).
(sđd., tr. 104 – 105).
++ Đặng Huy Trứ tự sát ở Hà Nội với di chúc để lại: Đừng đưa di hài về quê nhà.
(sđd., tr. 105).
+++ Tháng tám âl..
++ Nguyễn Tăng Doãn vâng lệnh vua ra Hải Dương bàn với La Đăng (Dujardin) về việc đánh giặc biển và chọn chỗ làm nhà cho Pháp ở Hải Dương và ngoài thành phố Hà Nội.
(sđd., tr. 105 – 106).
++ Nguyễn Văn Tường tâu bàn về điều khoản 20 “hòa” ước 1874: Đặt khâm sứ nước ta ở Ba Lê (Paris), kinh đô Pháp. Nguyễn Văn Tường xét thấy điều ấy là khó khăn, khó khăn về trình độ ngoại ngữ của quan ta, và về thông tin liên lạc (điện báo), ta hoàn toàn phụ thuộc (*). Do đó, Nguyễn Văn Tường đề xuất chỉ đặt khâm phái kiêm lãnh sự (chánh, phó, hai viên) ở Gia Định. Du Bi Lê (Dupré) trước đây cũng bàn như thế, tùy nhà vua chuẩn y hoặc không. Nếu vua chuẩn y, xin giao cho đình thần chọn người.
(sđd., tr. 106 – 107).
---- (*) Sử dụng điện báo của Pháp, không khỏi bị tiết lộ bí mật; nhưng nội dung mật bàn qua thư tín do nhân viên ta qua, về, để giao, nhận, lại quá tốn kém về tiền tàu, xe… ----
Đây rõ ràng là một nhượng bộ bên ngoài “hòa” ước, vì như thế vô hình trung tăng cao quyền hạn của tướng Pháp ở Phủ súy tại Gia Định, điều mà Nguyễn Văn Tường từng tố cáo ở bản tấu tháng 3 âl., Mậu thìn (1868)! Điều này triều đình cũng đã lo ngại, vì trước đó đã nhiều lần gửi hoặc có ý định gửi sứ bộ sang thương thuyết với vua (hay quốc trưởng) Pháp tại Ba Lê (Paris), bởi nghĩ rằng, Phủ súy Pháp tại Gia Định vượt quyền, “lập công vượt chỉ tiêu… xâm lược”!

++ Trần Tấn bị bệnh chết ở Cam Môn (Hà Tĩnh). Trần Quang Cán bị quan quân chém chết theo lệnh nghị xử sau khi bắt được (tử hình).
(sđd., tr. 106 – 107).
(xem thêm: tập 33, sđd., tr. 101).
++ Hoàng Sùng Anh (giặc Cờ vàng) xin hàng.
(sđd., tr. 107).
++ 41 người Nam Kỳ bị Pháp sai đi làm việc nặng nhọc trốn ra Bình Thuận, Khánh Hòa. Điển nông sứ Phan Trung sắp xếp cho họ chỗ ở. Pháp đưa thư, bắt ta phải trả lại cho chúng. Các đại thần Cơ mật viện (lúc này Nguyễn Văn Tường ở Gia Định bàn tục ước) tâu xin yết thị truy nã, giao cho Pháp 41 người dân ấy, để Pháp khỏi ngờ vực ta mưu tính gây ra những cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ!
(sđd., tr. 107).
Sách lược thỏa hiệp tạm thời của triều đình nhà Nguyễn vô hình trung đã cùng với tham vọng tàn ác của thực dân Pháp gây ra những cảnh quá đau lòng, đáng phẫn nộ.
++ Bắt sống được Đăng Như Mai. Vua chuẩn cho chém ngay.
(sđd., tr. 107).
++ Điều thống đốc Lê Bá Thận, hiệp đốc Vũ Lã về kinh vì Trần Tấn, Đặng Như Mai đã chết. Giao việc đàn áp còn lại cho quan tỉnh và quan quân thứ (Nghệ An: Nguyễn Chính, Vũ Trọng Bình; Quảng Bình: Trần Văn Chuẩn, Trần Hy Tăng…).
(sđd., tr. 108).
++ Từ Gia Định, Nguyễn Văn Tường gửi tập tâu về: Xin sức chỉ cho dân buôn, nhất là dân buôn người Hoa (nước Thanh) đăng kí làm nhà, mở phố dọc hai bờ sông Cấm tại Ninh Hải, tỉnh Hải Dương; đồng thời chuẩn cho đình thần chọn quan trông coi ở đấy. Đó là yêu cầu của Pháp để Pháp có thị trường (chợ) mua bán. Điều này cũng tiện cho ta trong việc quản lí. Vua cho là phải.
(sđd., tr. 110).
++ Nguyễn Văn Tường từ Gia Định về, đem súng Tây đã mua được cung tiến lên vua (1 khẩu súng lục, 500 viên đạn, giá 180 quan), và đưa về 5 thông dịch viên, 7 người rành máy móc kĩ nghệ để sử dụng (đều là người Gia Định).
(sđd., tr. 111).
+++ Tháng chín âl..
++ Vua cho Lê Bá Thận được thăng thự hiệp biện đại học sĩ (tòng nhất phẩm), lại sung Cơ mật viện đại thần. Lê Bá Thận dâng sớ xin từ, cho rằng dẹp yên các cuộc nổi dậy ở Hà Tĩnh, Nghệ An… là nhờ mưu kế tổ tiên từ xưa. Lê Bá Thận so với các mặt tài năng của Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Văn Tường, tự khiêm tốn nhận là thua kém: “… lâm việc tính kế thường hợp cơ nghi, có tài họat bát ứng biến, thần không bằng Nguyễn Văn Tường …”. Nguyễn Văn Tường được vua và triều đình đánh giá cao từ lâu, nhất là từ lúc đi sứ đến nay, nên Lê Bá Thận nhận xét như thế. Vua vẫn không cho Lê Bá Thận từ chối.
(sđd., tr. 112 – 113).
++ Vua Tự Đức ra dụ lúc phổ biến đến các tỉnh bản sao “hòa” ước và thương ước 1874: “… Từ xưa cũng không phải cậy hòa để dựng nước, mà [cũng] chưa từng không giảng hòa để cho quân nghỉ ngơi; tạm thời làm việc [thỏa hiệp này] phải đều tính toán cho dân…”, và Tự Đức còn viện dẫn lịch sử, phân tích tình hình hiện thời của Trung Hoa nhà Thanh: “… Gần đây triều đình Trung Quốc cùng 4 nước ở biển Tây [Tây dương] giảng “hòa”, cũng cho đặt khâm sứ, lãnh sự, và các người buôn nước Tây buôn bán ở cửa biển Trung Quốc…”.
(sđd., tr. 113 – 114).
++ Thự tổng đốc Hải – Yên Phạm Ý thương thuyết với Pháp, cùng phối hợp đánh thắng giặc biển. Vua sai Nguyễn Tăng Doãn cũng thương thuyết với mục đích ấy.
(sđd., tr. 114).
++ Sứ bộ Phan Sĩ Thục sang Trung Hoa về, bị giặc làm nghẽn đường.
(sđd., tr. 115 – 116).
++ Nguyễn Văn Tường tâu bày về việc mua súng Tây và sai người đến Gia Định học phương pháp sử dụng súng nhỏ đạn chạy.
(sđd., tr. 116).
++ Nguyễn Tăng Doãn vẽ bản đồ Hải Dương cùng 4 phía tỉnh ấy với các thuyết minh về chỗ ở, chỗ đóng trạm của Pháp, đệ trình về kinh đô.
(sđd., tr. 116).
+++ Tháng mười âl. (*).
---- (*) Nguyễn Văn Tường lại vào Gia Định kí tục ước thứ hai (như đã ghi phía trước) vào ngày 15-10 âl., Giáp tuất [1874]. ----
++ Chuẩn cho dân Thiên Chúa giáo được gọi là “giáo dân” (thay từ “dữu dân”, “tả đạo” hoặc “đạo”) và dân lương được gọi là “bình dân” (*).
---- (*) Giáo dân: dân có giáo hóa; bình dân: dân yêu chuộng sự hòa hảo. ----
(sđd., tr. 122 – 123).
++ Phạm Phú Thứ: thự Hải – Yên tổng đốc, kiêm sung tổng lí thương chính đại thần; Nguyễn Tăng Doãn: lãnh tuần phủ Hải Dương; Trần Hy Tăng: lãnh tuần phủ Hà Nội. Phạm Thận Duật trả chức thự tuần phủ Hà Nội, về kinh, đợi bổ.
(sđd., tr. 123 – 124).
++ Nguyễn Thành Ý: khâm phái kiêm lãnh sự ở Gia Định; Phan Kiêm Ích: phó lãnh sự.
(sđd., tr. 125).
++ Trần Bình: thượng thư Bộ Hộ; Phạm Ý: thượng thư Bộ Công kiêm lãnh [đại thần] Quốc tử giám. Bố chính sứ Khánh Hòa Lê Đình Tuấn: thự tuần phủ Thuận – Khánh.
(sđd., tr. 125).


E. CHƯƠNG SÁU

XII. THỜI LÀM THƯỢNG THƯ BỘ BINH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC VỚI TƯỚC HIỆU KÌ VĨ BÁ, ĐỒNG KIÊM SUNG ĐẠI THẦN NHA THƯƠNG BẠC

+++ Tháng mười âl.
(tiếp theo).
++ Nguyễn Tư Giản: kiêm sung Nha Thương bạc. Nguyễn Tư Giản dâng sớ xin từ chối. Vua cho rằng, về khoa ngôn ngữ, Nguyễn Tư Giản hình như chưa giỏi bằng Nguyễn Văn Tường; Nguyễn Văn Tường vốn đã am hiểu, thông thạo (đi sứ, giao tiếp với Tây, với tướng nhà Thanh từ tháng 12 âl., Đinh mão [1867  ‘’68] đến nay), do đó không lãnh chức ở Thương chính cũng lãnh chức của Thương bạc. Vua buộc Nguyễn Văn Tường phải nghe lệnh, Nguyễn Tư Giản cũng không được từ chối, vì cả hai đều muốn khước từ.
(sđd., tr. 126 – 127).


(Hết CHƯƠNG NĂM.
CHƯƠNG SÁU còn tiếp.
Xin xem tiếp tệp 5).


____________________________

Thứ bảy (chủ nhật cũ), ngày 05-02 HB6 [ 2006 ]
(mùng 8 tháng giêng, Bính tuất HB6)

TXA.

2.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KÌ VĨ PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 3)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)

(tiếp theo)
(Tệp 3)

D. CHƯƠNG BỐN

VIII. THỜI LÀM TÁN TƯƠNG QUÂN THỨ, TIỄU PHỈ Ở BẮC KỲ
+++ Tháng bảy âl.
(Mậu thìn, 1868 [tiếp theo]).
++ Cũng vào tháng 7 âl., Mậu thìn, năm Tự Đức thứ 21 (1868), bang biện huyện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường sung làm tán tương quân thứ, cùng một lực lượng quân hùng hậu, chia làm 3 đạo, đều do Đoàn Thọ (người An Giang, Nam Kỳ) giữ quyền tiết chế, ra Bắc Kỳ tiễu phỉ:
1. - Đoàn Thọ: Bình khấu tướng quân.
2. - Nguyễn Hiên: Thảo nghịch tả tướng quân.
3. - Phan Khắc Thận: Thảo nghịch hữu tướng quân.
4. - Lê Bá Thận: Chính đạo tham tán đại thần.
5. - Hoàng Văn Tuyển: Tả đạo tham tán đại thần.
6. - Trương Phúc Lý: Hữu đạo tham tán đại thần.
7. - Nguyễn Hữu Điềm: Tán lí quân thứ
8. - Nguyễn Văn Tường: Tán tương quân thứ.
9. - Nguyễn Văn Hùng: Phó đề đốc.
10. - Trần Văn Hùng: Lãnh binh quan Lạng Sơn.
Vua sai Trần Tiễn Thành ban rượu tiễn ở cửa Ngọ Môn và tặng thưởng theo cấp bậc.
(sđd., tr. 238).
++ Phủ Thái Bình nước Thanh gửi công văn thông báo sẽ cùng đánh giặc Ngô Côn (vốn là tàn dư Thái Bình thiên quốc ở Trung Hoa, đã biến tướng thành phỉ, tràn sang nước ta cướp bóc, chiếm đất, xưng hùng xưng bá). Trước đó, triều đình Đại Nam cũng thông tư cho đề đốc nước Thanh Phùng Tử Tài, để cùng hội đánh, vì quan quân nước ta đã vỗ yên bọn phỉ này nhưng chúng lại trở mặt, làm phản, quấy nhiễu.
(sđd., tr. 240, tr. 241).
++ Tuần phủ hộ lí tổng đốc Thân Văn Nhiếp dâng sớ thiết trách vua Tự Đức
(sđd., tr. 244 – 246).
Đây là một bản tấu nghị thể hiện tính dân chủ rất cao ngay dưới chế độ quân chủ phong kiến.
+++ Tháng tám âl..
++ Thả 74 tù phạm ở Thừa Thiên, phát giao cho quân thứ Lạng – Bằng để làm việc chuộc tội.
(sđd., tr. 248).
++ Ban áo rét cho tướng quân 3 đạo ra Bắc…
(sđd., tr. 248).
++ Lại làm miếu Hội đồng ở Quảng Trị (khi đổi tỉnh làm đạo, dỡ đi, nay làm lại).
(sđd., tr. 249).
+++ Tháng chín âl..
++ Trần Tiễn Thành lẽ ra phải làm chiêu thảo sứ, không phải là Vũ Trọng Bình, để ra Bắc tiễu phỉ, nhưng đình thần bàn lui!
(sđd., tr. 257 – 258).
+++ Tháng mười âl..
++ Vũ Trọng Bình thăng thụ thực hàm hiệp biện đại học sĩ, lãnh tổng đốc Hà – Ninh, sung làm khâm sai đại thần của quân thứ Tuyên – Thái – Lạng .
(sđd., tr. 262).
++ Tín đồ Thiên Chúa giáo Đinh Văn Điền (người Yên Mô, Ninh Bình, đồng hương với Phạm Thận Duật) mật tâu kế sách chống Pháp, quan hệ với nước Anh (cũng là thực dân xâm lược!). Đình thần cho rằng: Đinh Văn Điền vốn là đầu sỏ trong đám dân Thiên Chúa giáo, đã từng gây họa từ trước; lời tâu chỉ nhằm thăm dò triều đình phản ứng thế nào; chẳng qua muốn lái đất nước về phía Thiên Chúa giáo (hoặc muốn bày tỏ thái độ chính trị chính nghĩa để vẫn theo Thiên Chúa giáo?).
(sđd., tr. 262 – 263).
Cùng dạng như Nguyễn Trường Tộ, nhưng Nguyễn Trường Tộ ở trình độ cao hơn? Cả hai tiêu biểu cho một khuynh hướng trong Thiên Chúa giáo ở Việt Nam lúc bấy giờ? Vấn đề là ở La Mã và “Hội Truyền giáo Ba Lê (Paris) ở nước ngoài” (vốn câu kết làm một với thực dân)! Khuynh hướng tách khỏi giáo quyền La Mã (và đối với giáo dân Đại Nam, muốn thế, còn phải tách khỏi giáo quyền của “Hội Truyền giáo Ba Lê [Paris] ở nước ngoài”) như Anh giáo?
+++ Tháng mười một âl..
++ Đình thần nghị xử về tội trạng của các quan trong việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, việc nghị “hòa”… (nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Nguyễn Bá Nghi…). Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp dẫu đã chết vẫn bị truy đoạt lại chức hàm. Đồng thời quyết nghị đục bỏ tên Phan Thanh Giản ở bia tiến sĩ, để mãi mãi cái án trảm giam hậu với mục đích “giết người đã chết để răn về sau” … Tự Đức tự ăn năn là “không biết tính xa, dùng người sai lầm” (nguyên văn).
(sđd., tr. 267 – 270).
++ Để cùng dẹp phỉ, tri phủ Thái Bình nước Thanh gửi thư xin tăng số quân, phái người dẫn đường, giúp lương thực.
(sđd., tr. 273).
++ Bãi bỏ ruộng xã thương (10% số ruộng đất) ở phủ Thừa Thiên, vì “cha chung không ai khóc”; giao trả cho dân ruộng công để quân cấp (chia đều).
(sđd., tr. 275 – 276).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Quân lính đạo Lạng Sơn bỏ ngũ. Suất đội Nghệ An Trần Đăng Đạo (ở quân thứ Lạng Sơn?) bị án chém vì ngược đãi lính.
(sđd., tr. 279 – 280).
++ Trần Tiễn Thành chuyển qua làm thượng thư Bộ Binh thay Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Tri Phương vì tuổi già, bệnh lão, phải đổi sang quản lí Bộ Công, nhưng vẫn sung Cơ mật viện đại thần. Bùi Thức Kiên được đảm nhiệm chức vụ quyền lãnh thượng thư Bộ Lại.
(sđd., tr. 280).
++ Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình tâu về việc vỗ yên phỉ. Vua bảo: Như thế, có sự lưỡng lự giữa hai biện pháp, phủ dụ giặc và quyết đánh giặc; sự lưỡng lự ấy rất nguy hại.
(sđd., tr. 281).
++ Tự Đức định nghĩa về chức bang biện, và nhận xét: Bang biện chỉ là hư hàm, không có thực quyền, sinh ra tâm lí tạm bợ của người đề cử, người nhận chức.
(sđd., tr. 282).
++ Nguyễn Văn Tường, Đoàn Thọ và Đặng Toán (quan tỉnh Lạng Sơn) cùng với Vũ Trọng Bình, Lê Bá Thận bị giáng phạt có sai biệt (tùy mức nặng, nhẹ), mặc dù chỉ do Vũ Trọng Bình với Lê Bá Thận to tiếng với nhau, “mất đoàn kết”.
(sđd., tr. 286 – 287).
++ Quan quân thứ trước là Phạm Chi Hương dẫn Ngô Côn (giặc Cờ, tàn dư Thái Bình thiên quốc bên Tàu) đến đầu thú, ngoài cửa thành Lạng Sơn. Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình tiếp nhận, cấp cho Ngô Côn và quân của y một vạn lạng bạc, lại cho về Cao Bằng, sắp xếp chỗ ở. Ngô Côn trả lại phố Cầu Phong.
(sđd., tr. 288 – 289).

26) Tự Đức năm thứ 22, Kỉ tị (1869): 46 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Án sát sứ Hải Dương Tôn Thất Thuyết tâu về việc phòng thủ và tuyển thêm lính Nghệ – Tĩnh.
(ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 305 – 306).
+++ Tháng hai âl..
++ Giặc Hoàng Anh xin thú ở Tuyên Quang và xin được cư trú tại mỏ Tụ Long.
(sđd., tr. 311).
++ Lệnh vua cho các quan quân thứ tiễu phỉ ở phía Bắc cứ 10 ngày 1 lần tâu báo.
(sđd., tr. 315).
+++ Tháng ba âl..
++ Có một sự sắp xếp lại nhân sự ở các quân thứ. Nguyễn Văn Tường: tham tán quân thứ Tuyên Quang; Mai Quý (quan ở tỉnh ấy) sung làm tán lí… Đoàn Thọ, Lê Bá Thận và Vũ Trọng Bình lại trò chuyện khắc nhau, tâu xin về triều chịu tội; xin vua chọn người khác thay thế! Do đó, có sự hoán chuyển nhân sự trên. Vua ra sắc dụ: 3 đạo quân phải quyết đánh và chỉ đánh mà thôi, vì Ngô Côn đã đầu hàng lại giáo giở (Ngô Côn đang chiếm giữ Đồng Đăng, Kỳ Lừa ở Lạng Sơn).
Lúc này, Phùng Tử Tài (đề đốc nhà Thanh) đến biên giới bàn việc hội đánh.
(sđd., tr. 315, tr. 316 – 317).
++ Tự Đức bàn chuyện mặt trận phía Bắc với Nguyễn Tri Phương, Trần Tiễn Thành; đặc biệt, về quẻ (*) trong Kinh Dịch (rút lui không có lỗi, nếu hợp cơ nghi), và vận dụng vào việc điều động quân thứ Thái Nguyên: cần rút lui về tỉnh thành, chẹn chỗ hiểm yếu, tất vững.
(sđd., tr. 321 – 322, 323).
---- (*) Quẻ sư (tả thứ, vô cữu [cựu]), hào 4 (địa thủy / sư có 6 hào). ----
+++ Tháng tư âl..
++ Đình thần xin lấy Nguyễn Tri Phương hoặc Trần Tiễn Thành sung chức khâm sai đại thần đến Bắc Ninh. Sau vua lại cho thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Phong làm nhiệm vụ ấy. Trần Đình Túc làm tuần phủ Hà Nội thay Đào Trí. Đào Trí đến Bắc Ninh bàn việc quân. Vũ Trọng Bình xin tán tương quân thứ Tuyên Quang Nguyễn Văn Tường ở lại quân thứ Lạng Sơn để bàn tính chiến thuật (tham mưu).
(sđd., tr. 325).
++ Các quan quân thứ được thưởng. Nguyễn Văn Tường: 3 chỉ sâm, 1 thanh quế (hạng tư) để chống lam chướng, thêm tráng kiện… và tiền quy đổi từ vàng thưởng chung.
(sđd., tr. 326 – 327).
++ Ngô Côn đánh trận, mang nhiều súng ống, hỏa mù, cỡi ngựa tả xung hữu đột. Đoàn Thọ xin chế ống phụt lửa để trị bọn giặc Cờ này.
(sđd., tr. 328 – 329).
++ Quan Thanh đánh phỉ ở Kỳ Lừa, Chu Quyển, Đồng Đăng; phối hợp với Nguyễn Hiền.
(sđd., tr. 329).
++ Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên Nguyễn Bá Nghi tâu đề bạt và khen ngợi Nguyễn Văn Tường: Xin cất Nguyễn Văn Tường lên chức đốc phủ, vì đó là một người tài giỏi, am hiểu công việc lãnh đạo. [Vì chưa thật tin dùng Nguyễn Văn Tường, sau vụ đảo chính của Đoàn Trưng, còn gọi là “Kkhởi nghĩa Chày Vôi”, hồi ông còn làm phủ doãn kinh sư Thừa Thiên – Quảng Trị,] vua ban dụ: “Biết người rất khó” …; trách Nguyễn Bá Nghi tư vị, khinh thường.
(sđd., tr. 330 – 331).
++ Nước ta và nước Thanh treo thưởng về việc bắt sống hoặc chém được, bắn được Ngô Côn. Giá tiền thưởng đến 3.000 + 8.000 lạng bạc… hoặc 1.000 lạng bạc, tùy mức đạt được.
(sđd., tr. 331).
+++ Tháng năm âl..
++ Quan đạo Quảng Trị: Nguyễn Quế.
(sđd., tr. 336 – 337).
++ Phỉ Cờ vàng Hòang [Sùng] Anh đánh nhau với phỉ Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc.
(sđd., tr. 338).
++ Vũ Trọng Bình, Nguyễn Hiền, Đinh Hội đánh thắng, lấy lại thành Cao Bằng.
(sđd., tr. 339).
++ Tiết đại khánh hoàng thái hậu Từ Dũ, 60 tuổi: thưởng tiền gạo trị giá một tháng lương cho các quan 3 đạo ở Bắc Kỳ theo ân chiếu.
(sđd., tr. 343).
+++ Tháng sáu âl..
++ Hiệp lí Hải phòng tỉnh Hải Dương Hồ Trọng Đĩnh sung chức tán lí quân thứ Lạng Sơn.
(sđd., tr. 347).
++ Án sát sứ Tôn Thất Thuyết sung chức tán tương quân thứ Thái Nguyên.
(sđd., tr. 350).
+++ Tháng bảy âl..
++ Vì “đánh giá lại” Nguyễn Văn Chất (vụ Đoàn Trưng), Nguyễn Tri Phương bị vua khiển trách, giáng 2 cấp. Phan Huy Vịnh (*), Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành xin vua đưa Nguyễn Tri Phương ra Bắc Kỳ, sung chức Bắc Kỳ kinh lược đại sứ… Vua không đồng ý.
(sđd., tr. 355 – 356).
---- (*) Phan Huy Vịnh, dịch giả “Tỳ bà hành” (Bạch Cư Dị). ----
++ Viên ngoại lang Bộ Binh Trương Văn Đễ, tú tài Trương Quang Đản xin đến Sơn [Tây], Bắc [Ninh] mộ quân đánh giặc. Vua y cho.
(sđd., tr. 357).
++ Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Đình Nhuận lấy lại phủ thành Phú Bình, Thái Nguyên. Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường được lệnh vua bàn với tướng họ Phùng nước Thanh: Tiến quân về Thái, Bắc, Sơn, Tuyên, hội quân (phối hợp quân) cùng đánh.
(sđd., tr. 357).
++ Giặc Ngô Côn vây hãm tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn Phong, Bùi Tuấn cố giữ. Ông Ích Khiêm tiến về đánh giúp. Ngô Côn trúng đạn lạc. Ông Ích Khiêm được thưởng, khai phục hàm chức.
(sđd., tr. 357).
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 10 – 11: Ngô Côn chết).
++ Vua làm tiệc thọ chiêu đãi sinh nhật 70 tuổi của Nguyễn Tri Phương.
(sđd., tr. 358).
+++ Tháng chín âl..
++ Cao Bằng thiếu lương thực; Lạng Sơn phải phát chẩn, bán ra, cho vay. Vũ Trọng Bình từ khi lấy lại được Cao Bằng gặp phải lắm việc. Vua giao cho Nguyễn Văn Tường, Đặng [Kim] Toán, Trần Đôn Phục xét kĩ, tâu lên, đề xuất công việc cần làm.
(sđd., tr. 370 – 371).
++ Phùng Tử Tài đưa quân đến Bắc Ninh đóng trại, nghỉ chân. Sau đó, mang quân đi Thái Nguyên. Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường tiễn đến tỉnh Thái rồi về lại Bắc Ninh.
(sđd., tr. 371).
+++ Tháng mười âl..
++ Đình thần tâu về đạn tóe và các kĩ nghệ vũ khí khác; xin hỏi tuyển người am hiểu lĩnh vực này.
(sđd., tr. 373).
++ Giặc đầu hàng ở doanh trại quân Thanh hơn một vạn người.
(sđd., tr. 373).
+++ Tháng mười một âl..
++ Phái viên Pháp (quan năm, giám đốc) đến cửa biển Thuận An (Huế), và sau đó, được đến kinh đô, được vào bái yết vua Tự Đức để dâng quốc thư: Pháp muốn ta giao hẳn cho chúng 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ (An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long) bằng việc làm “hòa” ước mới để chính thức hóa việc chúng cướp 3 tỉnh ấy như 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường). Vua và đình thần yêu cầu Pháp phải trả lại cho ta tỉnh Biên Hòa và không đòi số tiền “bồi thường chiến phí” ngược ngạo!
(sđd., tr. 382).
Số tiền khổng lồ ấy chúng ngược ngạo ép buộc, khiến triều đình và nhân dân thêm kiệt quệ, đến nỗi vua quan phải bỏ lệnh cấm nhân dân sử dụng thuốc phiện để đánh thuế loại ma túy đó, thậm chí còn cấn cả đồ vật quý (như chuông, tượng Phật bằng vàng, bạc!) cho chúng.
++ Phùng Tử Tài lại về Bắc Ninh, nghỉ quân; cho mời sư lập đàn chay, định ngày đem quân về nước. Ta đưa quốc thư, đề nghị lưu lại, và dùng lời khéo nói để quân hai nước cùng chung sức dẹp yên biên giới. Phùng Tử Tài nghe theo lời thương thuyết.
(sđd., tr. 383 – 384).

27) Tự Đức năm thứ 23, Canh ngọ (1870): 47 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Co No (De Cornulier Lucinière) sang thay Ô Khỉ (Ohier) ở Gia Định, đưa quốc thư: Đòi làm “hòa” ước mới cho Pháp làm chủ hẳn Nam Kỳ lục tỉnh (!). Tổng đốc Bình – Phú Thân Văn Nhiếp, tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá Viêm đề nghị phải được các nước Phương Tây và các nước châu Á công chứng sau khi ta đã tranh luận bác bẻ Pháp. Nhóm đình thần Trần Tiễn Thành: “Ta đang hết sức chịu khuất, mong để chống chế, chưa có cốt cách; nếu lấy lời tranh luận, chẳng những không ích, lại sinh khó ra (…). Huống chi các nước khác cũng là một giuộc với nhau”. Vua: “Ta không phải găng mà lí nước ấy là trái”.
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 7 – 8).
+++ Tháng hai âl..
++ Truy tặng hàm thống chế cho đề đốc quân thứ Thái Nguyên Phan Bân (người Hải Lăng, Quảng Trị). Đó là vị liệt sĩ anh hùng, bị giặc bắt sống, vẫn bất khuất.
(sđd., tr. 11).
++ Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên Nguyễn Bá Nghi và thống đốc Đào Trí tiếp vận lương thực, đạn dược không được kế tiếp (bị gián đoạn), gây khó khăn cho các quân thứ Đại Nam và Thanh quốc. Tướng nhà Thanh họ Phùng phàn nàn. Vua cất chức, cho 2 quan ấy đi quân thứ làm việc chuộc tội. Thự tuần phủ Hà Nội Trần Bình thay Nguyễn Bá Nghi; Vũ Trọng Bình kiêm việc thu lương vùng Sơn – Hưng – Tuyên. Đồng thời, Vũ Trọng Bình cùng Nguyễn Văn Tường bảo tướng họ Phùng tiến quân, cùng quyết hội quân, quyết đánh. Vua khen ngợi Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường giỏi ứng đối, cho chuyên sung việc hộ dẫn, phối hợp bàn định công việc, mưu kế đánh dẹp.
(sđd., tr. 11).
+++ Tháng ba âl..
++ Nguyễn Bá Nghi được khai phục làm bố chính Sơn Tây, Đào Trí làm lãnh binh quan (Vũ Trọng Bình trước đó tâu phê phán, nay tâu xin cho).
(sđd., tr. 15).
++ Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cho sứ sang đệ quốc thư đáp lễ, nhắc lại việc trước đây Tự Đức cho lời lẽ của nước ấy không có thực tế.
(sđd., tr. 17 – 18).
+++ Tháng tư âl..
++ Phan Huy Vịnh (thượng thư Bộ Lễ kiêm chưởng Bộ Hình) bị giáng chức, cho về hưu; quyền lãnh thượng thư Bộ Lại Bùi Thức Kiên cũng bị giáng; quyền lãnh thượng thư Bộ Công Nguyễn Chính bị chê trách, bị cất chức (thu chức lại). Nguyễn Tri Phương kiêm cai quản Bộ Lại.
(sđd., tr. 19).
++ Nguyễn Bá Nghi chết.
(sđd., tr. 20).
++ Miên Thẩm chết.
(sđd., tr. 23).
+++ Tháng năm âl..
++ Vua Tự Đức cho triệu Hoàng Tá Viêm vào chầu để bàn về “hòa” ước với Pháp ngay trước mặt, và hỏi Hoàng Tá Viêm về vấn đề xung đột lương, giáo.
(sđd., tr. 24 – 26).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đào Trí về hưu. Vua cho theo lời xin vì lí do già ốm.
(sđd., tr. 29).
++ Tướng Phùng Tử Tài ngại lam chướng, tâu bày về vua Thanh 8 điều, để xin rút quân về nước. Đó là lúc chưa lấy lại được Hà Dương. Nay đã thu lại được, nên Phùng càng quả quyết đưa thư cho ta để rút quân.
(sđd., tr. 29 – 30).
++ Vua tặng kiếm vàng, làm 3 bài thơ đề vào quạt, với nhiều phẩm vật khác để tặng Phủng Tử Tài. Tướng họ Phùng không nhận kiếm vàng… Tổng trấn Quan Tùng Chi ốm chết, Nguyễn Văn Tường sung làm khâm mạng đến phúng điếu 200 lạng bạc và nhiều lễ vật; lại đem 3.000 lạng bạc khác tặng các doanh quân Thanh. Vũ Trọng Bình làm đền “Chiểu trung”, thờ tướng tá nước Thanh chết trận (đền ở ngoài thành Lạng Sơn). Sơn Tây, Bắc Ninh làm đàn tế. Đó là các việc làm hữu nghị. Đại binh nhà Thanh, sau đó, đã rút về nước.
(sđd., tr. 30 – 31).
++ Tình hình tạm yên, Nguyễn Văn Tường tâu bày công việc xếp đặt Bắc Kỳ trước mắt và về sau (*):
---- (*) Trong ĐNTL.CB., tập 32, sđd., số trang dưới đây, có chép lại bản tấu rất bao quát và sâu sắc của Nguyễn Văn Tường. Bản tấu ấy thể hiện tư tưởng chính trị đức trị của ông. ----
1. Việc Nam Kỳ phải thư thả tính chuyện lấy lại, trước mắt lo giữ Bắc Kỳ.
2. Người đảm đương ở Bắc Kỳ lại cẩu thả. Muốn tâu bày thì không kể xiết. Ai chịu lỗi làm dân nhọc, dân oán?
3. Dùng pháp luật để sửa chữa thói tệ, sợ không hiệu quả. Phải lấy sự gương mẫu của quan để cải tạo thói tệ ấy. Và “không có sự hà khắc thì không có sự phản nghịch lớn” (nguyên văn). Cụ thể là quan phải thanh liêm, tài giỏi, khoan dung, đúng mức. Phải cải tổ cơ cấu quan chức; đồng thời quân tỉnh phải có thêm quân tinh nhuệ (lính kinh đô Huế, Thanh – Nghệ…). Xin quan đại thần uy đức như Nguyễn Tri Phương làm kinh lược Bắc Kỳ đại sứ với 2.000 quân.
4. Quy chế cũ ở Hà Nội cũng phải cải tổ, đổi mới, vẫn theo phương châm “quan chính đính thì dân chẳng dám không chính đính” (“thượng bất chính, hạ tắc loạn”: trên bất chính, dưới ắt loạn).
5. Chỉ rút quân chủ lực (quân thuộc Bộ) sau vài năm, tùy vào sự nhận định tình hình của quan kinh lược.
6. Nếu không như thế, e rằng phải tốn công sức tiễu trừ, bình định giặc phỉ ở Bắc Kỳ lần nữa.
(sđd., tr. 31 – 32).
Đây là bản tấu quan trọng của Nguyễn Văn Tường. Như đã nói, tấu nghị này thể hiện quan điểm chính trị: Nhân trị, đức trị, chứ không phải dùng hình pháp đơn thuần. Bản tấu còn trình bày rõ: Nhân trị, đức trị đi đôi với việc củng cố quân chủ lực và quân các tỉnh để trấn giữ; xác định mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trước mắt, và quyết dứt điểm, tạo cơ sở cho mục tiêu, nhiệm vụ sau (củng cố Bắc Kỳ, tạo cơ sở cho việc tái chiếm Nam Kỳ), tránh tình trạng ôm đồm, “xôi hỏng bỏng không”.
+++ Tháng bảy âl..
++ Tô Tứ, giặc đã đầu hàng ở Lạng Sơn, nay lại làm phản. Giặc họ Đặng, họ Hoàng lại nổi lên. Do đó, Lạng – Bắc hợp lại làm một quân thứ. Đoàn Thọ: tổng thống Bắc Kỳ quân vụ; Vũ Trọng Bình: hiệp thống; Lê Bá Thận: tham tán quân thứ Lạng – Bằng; Ông Ích Khiêm: tán lí.
(sđd., tr. 39).
+++ Tháng tám âl..
++ Giặc Khách đầu hàng, trước đã theo Phùng Tử Tài về nước, nay lại tràn qua. Tướng Phùng Tử Tài lại sai tri phủ Thái Bình (ở Trung Hoa) sang. Đó là Từ Diên Húc. Từ Diên Húc sang hiểu dụ lũ phỉ ấy.
(sđd., tr. 42).
++ Đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc sợ về nước sẽ bị giết, xin ở lại nước ta. Quan quân ta định dùng Lưu Vĩnh Phúc để diệt Hoàng Sùng Anh.
(sđd., tr. 42).
+++ Tháng chín âl..
++ Đoàn Thọ tâu: Xin thêm lính Nam Kỳ, vì lính Bắc Kỳ không dùng được. Vua trách tướng, dẫn lịch sử.
(sđd., tr. 44).
++ Cũng tháng 9 âl., bọn giặc đã đầu hàng lại đánh úp tỉnh Cao Bằng và chiếm được thành.
(sđd., tr. 46).
++ Cùng các quan quân thứ, do các công lao trước đây, Nguyễn Văn Tường cũng được thưởng nhung, quế và tiền (kể cả tiền chi về cho bố mẹ, vợ con).
(sđd., tr. 46).
++ Pháp đánh nhau với nước Phổ (Phổ Lỗ Sĩ, Đức), vua Pháp bị quân Phổ bắt sống. Tự Đức muốn thừa thời cơ này bảo Pháp trả lại sáu tỉnh Nam Kỳ. Đình thần bàn: Sai tuần phủ Bình Thuận Nguyễn Uy vào Gia Định, khéo léo nói chuyện. Vua lại sai viết quốc thư. Tướng Pháp chỉ đưa thư đáp lễ, không muốn điều đình. Đình thần cho rằng nước ta bận việc biên giới phía Bắc, việc với Pháp chưa tiện hành động.
(sđd., tr. 47 – 48).
++ Tự Đức ra đạo dụ về tình hình biên giới phía Bắc. Khi quân Thanh vừa rút thì ngay lập tức, giặc phỉ lại tràn sang, giặc hàng lại nổi dậy…
(sđd., tr. 50 – 51…).
+++ Tháng mười âl..
++ Sứ bộ sang Trung Hoa: Nguyễn Hữu Lập, Phạm Hy Lượng, Trần Văn Chuẩn. So với lễ cống theo lệ thường, phẩm vật lần này hậu hơn (do việc quân Thanh phối hợp tiễu phỉ). Cơ mật viện soạn sẵn các ý tưởng (về tình hình Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, Nã Phá Luân [Napoléon] bị Phổ bắt…), để sứ bộ đối đáp với vua nước Thanh và với các sứ giả Cao Ly (Nam Bắc Triều Tiên), Nhật Bản, Lưu Cầu (Riu Kiu)… hiện cũng ở đấy. Các ý tưởng đó thể hiện một sự cẩn trọng, ngại gây hiềm khích với Pháp và các nước Tây Phương…
(sđd., tr. 56 – 59).
++ Nguyễn Trường Tộ (giáo sĩ Thiên Chúa giáo) mật tâu 2 cách đối phó với Tây:
1. Lấy lại 6 tỉnh Nam Kỳ; vẫn quan hệ với Pháp về thương mại như người Anh [thực dân!] ở Hạ Châu (Mã Lai).
2. Quan hệ thân thiết với [thực dân!] Anh để Pháp nguôi bàn chuyện định “hòa” ước mới về Nam Kỳ…
Trần Tiễn Thành xin sai Nguyễn Hoằng (linh mục) sang Pháp, cùng cho Nguyễn Trường Tộ đi theo, xem tình hình Anh, Nga, Úc, Phổ (Đức)… Phương cách vẫn chỉ là biện pháp thương thuyết với hai viện Quốc hội Pháp. Vua cho vời Nguyễn Trường Tộ vào kinh để hỏi việc (Nguyễn Trường Tộ vốn đã du học ở Tây lâu ngày).
(sđd., tr. 59 – 60).
++ Cũng tháng 10 âl., giặc phỉ Tô Tứ đánh úp thành Lạng Sơn. Lãnh binh quan Lê Văn Dã tử trận; Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán vượt thành chạy. Nguyên nhân: thành bị bỏ trống, thiếu quân, do Ông Ích Khiêm và Hoàng Tướng Hiệp rút quân đi đánh phỉ ở Nà Dương. Nghe có biến, Ông Ích Khiêm đưa quân về Kỳ Lừa. Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán bơi qua sông, hội bàn. Tổng thống Bắc Kỳ quân vụ Đoàn Thọ lên thành chống giữ, bị chết tại trận! Vua giáng Vũ Trọng Bình xuống hồng lô tự khanh, đoạt chức hiệp thống. Cả ba vị quan này đều bị điều về Bắc Ninh. Vua giao cho Bùi Tuấn (tổng đốc Bắc Ninh) tự tính toán ủy nhiệm công việc khác. Việc quân thứ, giao cho Ông Ích Khiêm; Hoàng Tướng Hiệp được đổi sang làm tán tương; lại điều động Vũ Đức từ Sơn Tây về làm phó cho đề đốc hiện thời là Đinh Hội. Vua lại phái ngay 3.000 quân Hà Tĩnh ra Bắc Ninh; quan tỉnh Bắc Ninh (Bùi Tuấn, Nguyễn Bính) lo tiếp tế; lại sai viết thư cho tuần phủ Quảng Tây và đề đốc Phùng Tử Tài để xin chi viện.
Nguyễn Văn Tường sau lại được chuẩn cho quyền sung chức tán tương (để giao thiệp thư từ với các tướng Thanh).
(sđd., tr. 61 – 62).
++ Trước tình hình đó, vua và triều đình bàn việc cử người làm tướng soái, có tham khảo ý kiến riêng của Nguyễn Tri Phương. Quyết nghị: Tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá Viêm sung chức Lạng – Bằng – Ninh – Thái thống đốc quân vụ đại thần với một thanh gươm vàng, 5 lá cờ lệnh; Hộ bộ biện lí Tôn Thất Thuyết mới sung chức tán tương đạo Ninh – Thái vào tháng 6 âl., nay đổi làm tán tương quân thứ.
(sđd., tr. 62).
Từ đây, mặt trận phía Bắc do Hoàng tá Viêm hoàn toàn thống lĩnh, có sự hỗ trợ của Lê Tuấn, rồi về sau là sự hỗ trợ của Tôn Thất Thuyết.
+++ Tháng mười nhuận âl..
++ Tôn Thất Thuyết đến Bắc Ninh, xin đánh gấp để mở đường tiếp vận lương từ Bắc Ninh lên Lạng Sơn, và chờ Hoàng Tá Viêm để cùng lên Thái Nguyên.
(sđd., tr. 66).
++ Ông Ích Khiêm đến đồn Cốc Trấn, bị giặc bắn xuyên qua đùi, bắp chân. Ông Ích Khiêm mang quân hộ tống về tỉnh Đông (Hải – Yên) để điều trị. Hộ phủ Hưng Hóa Nguyễn Huy Kỷ được thăng hàm tham tri Bộ Binh, thay Ông Ích Khiêm. Do Ông Ích Khiêm tùy tiện mang quân về tỉnh Đông, đồn bị rỗng, nên giặc càng vây áp đồn Kỳ Lừa (quan quân đóng ở đấy). Vì vậy, Vũ Đức rất dũng cảm vẫn bị thua giặc, bản thân lại bị thương. Vua giáng Ông Ích Khiêm xuống quan lộc tự khanh, sung tán lí.
(sđd., tr. 66).
++ Quân số ở 3 quân thứ: Lạng Sơn: 3.290; Thái Nguyên: 1.780; Bắc Ninh: 6.560. Cộng: hơn một vạn người.
(sđd., tr. 67).
+++ Tháng mười một âl..
++ Hoàng Tá Viêm lấy việc phủ dụ làm kế nhất định. Do đó, vua sai Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán đến Lạng Sơn, các tỉnh khác và các quân thứ để hiểu dụ, vỗ về. Kế sách của Tự Đức: phủ dụ mà giặc kiêu, ngang tàng, thì đánh ngay cho chúng nhụt rồi lại phủ dụ.
(sđd., tr. 70).
++ Cũng tháng mười một âl., đình thần tâu dâng lên bản án thất thủ thành Lạng Sơn. Tự Đức phân tích bản án, so sánh với việc thất thủ các thành Gia Định, Phiên An, Thái Nguyên, Tuyên Quang, cho là tiếc người, xử nhẹ. Tuy vậy, cuối cùng vua vẫn chuẩn như trước, mặc dù có cảnh cáo: Nếu tự xét xử, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán sẽ thấy là đáng tội trảm giam hậu. Còn một số khác, bị đánh 100 côn trước quân, cho làm quân đóng trước (quân tiền khu) để chuộc tội. Về Đoàn Thọ, Lê Văn Dã (tự sát hay bị giặc giết tại trận), sẽ điều tra, xét sau.
(sđd., tr. 70 – 72).
(xem thêm: tập 33, sđd., tr. 65 – 66).
++ Định lệ hàng năm tiến cử người mình biết. “Tiến cử người hiền tài thì được thưởng hậu, che giấu hiền tài thì bị giết” , không phải chỉ một lần vua Tự Đức nhắc lại câu này.
(sđd., tr. 72 – 74).
++ Định lại lệ thân nhân của giặc được vào dự thi và không được dự thi.
(sđd., tr. 74).
Đây là mặt đối lập của thói tệ tập ấm, sắc phong thời phong kiến (“một người làm quan cả họ được nhờ”!).
++ Thống đốc Hoàng Tá Viêm tâu: Tình hình biên giới gay go do quan lại ở đấy không khéo vỗ về; bọn giặc có khẩu hiệu (thực ra là chiêu bài mị dân): “Giết hết quan lại tham ô”. Hoàng Tá Viêm chủ trương vừa đánh vừa phủ dụ; còn việc xếp đặt về sau, rất cần người tài giỏi; trước mắt xin chuyển đổi một số quan lại.
(sđd., tr. 75 – 76).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Vũ Phạm Khải vâng mật dụ đi chiêu phủ.
(sđd., tr. 80 – 81).
++ Cũng tháng mười hai âl., Tô Quốc Hán (Tô Tứ) xin hàng, nộp trả thành Lạng Sơn, cùng súng ống, khí giới khác, do Hoàng Tá Viêm phái người đến chiêu dụ. Ta phải cấp cho Tô Tứ đến 11.000 lạng bạc để quân của y về nước; còn năm trăm tên ở lại tại nơi chốn được sắp xếp trước đây, ấy là Nà Dương, Khôn Quang, với mức chu cấp 6 tháng lương. Tô Tứ trú ở Đồng Bộc. Được tin, vua cho thông báo khắp trong kinh ngoài tỉnh. Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Bính, Nguyễn Huy Kỷ đều được thưởng, gia thăng cấp, trật. Nguyễn Văn Tường: gia 1 trật, 1 đồng tứ mĩ kim tiền; Hoàng Tá Viêm: gia 2 cấp, 1 đồng ngũ phúc kim tiền…
(sđd., tr. 81 – 82).

28) Tự Đức năm thứ 24, Tân mùi (1871): 48 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Giặc Đặng Chí Hùng (Đặng Vãn) xin đầu hàng.
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 84).
++ Vua thăng chức hàm cho một số quan trong triều và tại các tỉnh: Nguyễn Tri Phương: thái tử thái bảo; Trần Tiễn Thành: thự hiệp biện đại học sĩ; Hoàng Tá Viêm: gia hàm hiệp biện đại học sĩ; Phạm Phú Thứ: thự thượng thư Bộ Hộ; Lê Tuấn: thự thượng thư Bộ Hình…
(sđd., tr. 85 – 86).
++ Quan quân thứ Lạng Sơn dâng sớ: Cần một vạn phương gạo mới mong lấy lại thành Cao Bằng. Quan tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn vận lương đến.
(sđd., tr. 86).
++ 21 tên tù ở Hải – Yên đến quân thứ Lạng Sơn làm việc chuộc tội.
(sđd., tr. 87).
+++ Tháng hai âl..
++ Lưu Vĩnh Phúc giao chiến với Hoàng [Sùng] Anh. Tưởng Hoàng Anh đã chết, hóa ra y chỉ bị thương (theo tin do thám của quân thứ Tuyên Quang).
(sđd., tr. 89).
++ Bọn giặc thuộc hạ của Tô Tứ là Lao Doãn Tài (Lao Nhị) lại làm phản… Trách Tô Tứ, Tô Tứ bảo không kiềm chế nổi. Ngoài ra, giặc vỡ (bọn giặc đã bị đánh tan tác), vốn là thuộc hạ của họ Đặng (Đặng Vãn)… lại quấy nhiễu. Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Huy Kỷ bị giáng cấp. Hoàng Tá Viêm xin viết thư đề nghị quân Thanh chi viện.
(sđd., tr. 90 – 92).

IX. THỜI ĐƯỢC THĂNG TÁN LÍ QUÂN THỨ, TIẾP TỤC TIỄU PHỈ Ở BẮC KỲ (LẠNG SƠN, BẮC NINH…)

+++ Tháng ba âl.
(Tân mùi [1871]).
++ Hoàng Tá Viêm ủy nhiệm cho Nguyễn Văn Tường đem 2.000 quân đi đánh giặc. Bố chính sứ Bắc Ninh Phạm Thận Duật đem thủ dõng phối hợp với quân chủ lực của Nguyễn Văn Tường, tiến đánh bọn giặc phỉ ở xã Tiên Dược (thuộc huyện Kim Anh). Quân ta thắng trận. Đó là bọn giặc với đầu sỏ tên là Tịch, có 4.000 tên lâu la đi theo (4 đầu sỏ đồng bọn là Chuyên, Đài, Nhiễm, Chích, rất tàn ác), nổi lên khi bọn Tô Tứ trước đây vây thành Lạng Sơn. Bọn giặc này cướp quấy ở Đông Ngàn, Đa Phúc, Kim Anh. Hoàng Hữu Tài ở quân thứ được phái đi đánh, không may bị chết trận. Nay Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật đánh thắng, dẫu tên đầu sỏ trốn thoát. Hoàng Tá Viêm: quân công 2 cấp; Nguyễn Văn Tường: khai phục quang lộc tự khanh; Phạm Thận Duật: quân công một cấp.
(sđd., tr. 94).
++ Phùng Tử Tài đem 16 doanh quân sang.
(sđd., tr. 94 – 95).
++ Lấy lại được thành Cao Bằng. Đó là công của án sát Cao Bằng Đặng Duy Trinh và Vi Tam (quân Thanh)… Vi Tam lập mưu cho quân ăn mặc thường phục, như phu đi làm, vào thành lấp kín lỗ bắn súng lớn. Liền đó, hội quân đánh úp vào ban đêm.
(sđd., tr. 97).
(xem thực chất vấn đề ở tập 32, sđd., tr. 223…).
++ Khâm sai Phan Đình Bình về triều báo cáo tình hình biên giới Bắc. Trong đó, có nói Vũ Trọng Bình khác ý kiến với Ông Ích Khiêm (Ông Ích Khiêm chủ đánh, Vũ Trọng Bình ngã về hướng phủ dụ)…
(sđd., tr. 98 – 99).
+++ Tháng tư âl..
++ Quan Bộ Binh (Trần Tiễn Thành) xin điều động bố chính sứ Bắc Ninh Phạm Thận Duật lo việc đốc thúc vận lương; Ông Ích Khiêm, Nguyễn Văn Tường đi dẹp yên toán giặc ở Bắc Lệ, Hòa Lạc, giải tiền gạo cho đồn Quang Lang, tỉnh Lạng, để đưa thẳng đến thành Lạng Sơn, nhằm đỡ sự thiếu thốn ở đấy.
(sđd., tr. 101).
++ Ba Đình Kiệt và Từ Diên Húc từ Trung Hoa sang.
(sđd., tr. 101 – 102).
++ Lê Bá Thận (tả tham tri Bộ Hộ) thăng thượng thư Bộ Lễ.
(sđd., tr. 102).
++ Tiền giả do người Thanh đúc tràn sang nước ta.
(sđd., tr. 104).
++ Lê Tuấn làm khâm sai ra Bắc.
(sđd., tr. 104 – 105).
++ Có toán giặc chiếm đồn Quang Lang tỉnh Lạng. Tham tán Nguyễn Huy Kỷ, tuần phủ Lương Quy Chính bị giáng 4 cấp; tán lí Ông Ích Khgiêm, Nguyễn Văn Tường và thống đốc Hoàng Tá Viêm đều bị giáng 2 cấp, lưu nhiệm. Rồi vẫn chưa thông đường, vua giận, cách chức, lưu nhiệm tất cả. Lại viết quốc thư sang nước Thanh.
(sđd., tr. 104 – 105).
++ Giặc Hoàng Anh xin hàng. Vua cho.
(sđd., tr. 106).
++ Tô Quốc Hán, Tăng Á Trị lại đốt chỗ ở tại Nà Dương (Lạng Sơn) khi nghe quân Thanh sang. Chúng tụ lại tại An Châu.
(sđd., tr. 106).
+++ Tháng năm âl..
++ Đề đốc Phùng Tử Tài, đạo đài Ba Đình Kiệt đóng quân ở Long Châu (tiếp giáp nước ta). Quan quân thứ Lạng Sơn tâu lên, nên được lệnh mang quốc thư, phẩm vật sang ủy lạo và tặng.
(sđd., tr. 108).
++ Quân Thanh sang. Toán giặc ở đồn Quang Lang (Lạng Sơn) chạy tan. Quan quân tỉnh Bắc Ninh chở gạo đến Lạng Sơn.
(sđd., tr. 108).
++ Đang xem xét về Vũ Phạm Khải (quy hàng khi bị Đặng Vãn bắt) theo các nguồn tin, họ Vũ bỗng ốm chết.
(sđd., tr. 110 – 112).
++ Bắt được hai đầu sỏ giặc ở Bắc Ninh là Đỗ Chuyên, Nguyễn Nhiễm.
(sđd., tr. 126).
+++ Tháng sáu âl..
++ Tự Đức dịch ra quốc âm, làm thành bài ca, từ “Thập điều diễn nghĩa” của Thiệu Trị, ban bố rộng rãi đến nhân dân trong cả nước. (Về sau, một lần nữa, vua ra lệnh bỏ cấm đạo Thiên Chúa, nên sẽ lại thu về).
(sđd., tr. 126).
++ Quan khoa đạo Phan Văn Điển phê phán biện pháp phủ dụ của Hoàng Tá Viêm, và chỉ trích cả Lê Tuấn. Hoàng Tá Viêm và Lê Tuấn lại có tập tâu “càn bậy” (nguyên văn). Triều đình nghị xử. Vua đặc ân giảm nhẹ.
(sđd., tr. 127 – 129).
++ Định phái tàu đi ra nước ngoài thám thính tình hình phương xa.
(sđd., tr. 130).
+++ Tháng bảy âl..
++ Tăng Á Trị bị bắn chết; Lao Doãn Tài đầu hàng.
(sđd., tr. 139).
+++ Tháng tám âl..
++ Phan Huy Vịnh chết (đã về hưu trước đó).
(sđd., tr. 140).
++ Đầu tháng 8 âl., vua đã dụ cho các quân thứ tại Bắc Kỳ: Mời quân Thanh sang hội đánh; Hoàng Tá Viêm, Trần Đình Túc sợ mất thể diện, xin tự làm lấy; lại để dài ngày; thị sư Lê Tuấn khi ra đi, hứa đánh mạnh vài trận mới phủ dụ, đến nay vẫn không thi thố được gì. Do đó, vua chê trách: Nay để cho quân Thanh khinh dể, thật xấu hổ!...
(sđd., tr. 140 – 141).
++ Lê Tuấn sung chức Bắc Kỳ kinh lược đại thần.
(sđd., tr. 141).
++ Lãnh tri phủ Từ Sơn Trương Quang Đản bắt được tên Nguyễn Văn Đài, đầu sỏ giặc tàn bạo nhất trong các tên giặc, nhờ người được phái giỏi.
(sđd., tr. 141 – 142).
+++ Tháng chín âl..
++ Hoàng Tá Viêm, Lê Tuấn tâu báo: Chủ nuôi chứa Hoàng Anh là một người Mèo (*); về tình trạng thâm thù giữa Lưu Vĩnh Phúc với Hoàng Anh.
(sđd., tr. 143).
---- (*) Tại Suối Bốc ở Tuyên Quang (tập 31, sđd., tr. 60). ----
++ Hoàng Tá Viêm và Lê Tuấn, hai người thống lĩnh mặt trận phía Bắc, dâng tập tâu, nhận định các mặt của biên giới giáp Trung Hoa. Trong đó có nhận xét: Người Hoa sang cư ngụ ở Bắc Kỳ nhiều hơn tất cả các kỳ (nhất là thời Thanh triều), dễ câu kết với giặc Khách. Và đề xuất biện pháp. Vua khen đây là tập tâu có giá trị nhất, chuẩn cho thi hành ngay.
(sđd., tr. 144 – 153).
+++ Tháng mười âl..
++ Phó tướng nước Thanh Lôi Bỉnh Cương bắt được Tô Tứ ở trấn Đông Hưng (Trung Hoa). Bè lũ còn lại chạy sang phủ Hải Ninh (tỉnh Quang Yên, nước ta), nơi Hồ Trọng Đĩnh trấn nhậm.
(sđd., tr. 155).
++ Vua giáng dụ quở trách Hoàng Tá Viêm và Lê Tuấn (vì được giao quyền lớn nhưng ít được việc), động viên một loạt các quan quân thứ, quan tỉnh (trong đó có Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Hoàng Diệu, Đinh Hội, Trần Thiện Chính, Vũ Trọng Bình, Trần Đình Túc…).
(sđd., tr. 157).
+++ Tháng mười một âl..
++ Giặc Hoàng Tề (người Việt đã Hoa hóa), giặc Tô Tứ còn sót và giặc biển câu kết với nhau, quấy nhiễu Hải – Yên. Hồ Trọng Đĩnh xin phái tàu chạy hơi nước đánh dẹp.
(sđd., tr. 159).
++ Cũng tháng 11 âl., Lê Tuấn tâu xin bán ruộng đất công bỏ hoang, thành ruộng tư, với các mức giá ruộng khác nhau… Đình thần xét, vua y cho.
(sđd., tr. 166 – 169).
Đây là vấn đề mà về sau, Nguyễn Văn Tườngsẽ cải cách thuế ruộng công, ruộng tư, nhằm giải quyết lại vấn đề đó.
+++ Tháng mười hai âl..
++ Tham tán Ông Ích Khiêm và tán lí Trần Thiện Chính đem thuốc cháy bắn ra, đốt giặc ở xã Sen Hồ, tỉnh Sơn Tây, thắng lớn, được thưởng.
(sđd., tr. 172).
++ Bắc Ninh động đất, tiếng vang như sấm.
(sđd., tr. 173).
++ Tri phủ Từ Sơn Trương Quang Đản đem binh dõng đi đánh giặc, bắt được tên đầu sỏ Nguyễn Đình Chích.
(sđd., tr. 174).

29) Tự Đức năm thứ 25, Nhâm thân (1872): 49 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Vua ra dụ, phân tích tình hình phía Bắc; nhắc nhở và động viên Hoàng Tá Viêm, Lê Tuấn, quan tỉnh Lạng Sơn Lương Quy Chính, quan tỉnh Cao Bằng Đặng Duy Trinh; đặc biệt nhắc lại sự ân giảm lỗi và phục chức cho Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường để khích lệ.
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 176 – 177).
++ Giặc Hoàng Anh quấy nhiễu Tuyên Quang.
(sđd., tr. 179).
++ Tướng nhà Thanh Lưu Ngọc Thành, Trần Triều Cương hội quân tiễu phỉ ở Thái Nguyên.
(sđd., tr. 179).
+++ Tháng hai âl..
++ Vua trách Ông Ích Khiêm dung túng quân lính làm càn, bản thân kiêu ngạo, cứng xẵng, nóng tính.
(sđd., tr. 180 – 182).
++ Phùng Tử Tài gửi văn thư nói sẽ rút quân về.
(sđd., tr. 184).
++ Quan quân Bắc Ninh (đề đốc Đinh Hội, phó đề đốc Trần Môn [Mân?], án sát Hoàng Diệu) đánh lui bọn thủy tặc.
(sđd., tr. 184).
++ Tự Đức mật dụ động viên Hoàng Tá Viêm, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường (dụ riêng cho 3 người). Trong lời dụ này, có nói đến gốc gác, tài năng của 3 vị ấy: Hoàng Tán Viêm, con nhà dòng dõi (con trai của Hoàng Kim Xán); Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường được tuyển vào hạng tuấn kiệt trong nước.
(sđd., tr. 185 – 186).
++ Bố chính sứ Tôn Thất Thuyết và tán tương Trương Văn Đễ đánh giặc ở Hải Dương. Đầu sỏ Hoàng Tề chết trong trận. Lê Tuấn, Tôn Thất Thuyết và Trương Văn Đễ… được thưởng và khai phục.
(sđd., tr. 186).
++ Phó đề đốc Trần Mân, tham tán Ông Ích Khiêm, tán lí Nguyễn Văn Tường đánh tan giặc Khách (Tàu) ở Thanh Dã, Thái Nguyên, được thăng thưởng.
(sđd., tr. 189).
+++ Tháng ba âl..
++ Tổng đốc Ninh – Thái Bùi Tuấn (người Hà Nội, đồng tiến sĩ) chết.
(sđd., tr. 191).
++ Dân Bắc Kỳ (Sơn tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương) bị đói, xiêu tán, chết đường. Quan tỉnh, huyện có lệnh tìm cách giúp. Vũ Trọng Bình sung làm khâm phái để khuyên dân giàu nên thực hiện câu “lá lành đùm lá rách”…, và cũng nhân thể tìm hiểu nỗi khổ của dân, phát hiện các việc gian giấu, trấn trị bọn tham quan, cường hào.
(sđd., tr. 191).
+++ Tháng tư âl..
++ Thự thượng thư Bộ Hình Nguyễn Uy ra Bắc làm thự tổng đốc Ninh – Thái kiêm sung chức thị sư. Nguyễn Uy ra Bắc với 3 đạo quân kinh phái (tăng cường lính từ kinh đô [chủ lực]), mang theo vàng bạc nhà vua thưởng các quân thứ, các quân doanh tỉnh.
(sđd., tr. 193, 194).
++ Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Tri Phương, lãnh thượng thư Bộ Lại, đã khỏi bệnh, vào chầu.
(sđd., tr. 195).
++ Giặc Hoàng Anh xin hàng. Buộc hắn trả lại tiền chu cấp khi hàng phục mà hắn đã lãnh trước đây! Cảnh giác!
(sđd., tr. 202).
++ Quân thư Bắc Ninh bắt được tên giặc Tịch (tức Lê Khuông), đóng cũi giải về kinh đô Huế. Vua cho Tịch là tên kiệt hiệt nhất trong bọn đầu sỏ; tuyên dụ khắp Bắc Kỳ. Khi Tịch bị giải vào đến Quảng Trị, y tự sát (đâm bụng, cắn lưỡi). Quản đạo Quảng Trị lăng trì xác giặc, bêu đầu 3 ngày, giã nhỏ vứt sông để răn đe. Lúc này là cuối tháng 4 âl..
(sđd., tr. 205 – 206).
+++ Tháng năm âl..
++ Đầu tháng, Quảng Trị mua được hai cỗ voi đem tiến
(sđd., tr. 206).
Bố chính sứ Hải Dương Tôn Thất Thuyết tự tiện xử án chém hai người lính chăn voi (do sự cãi vã về tiền bạc, họ đánh bừa lại dịch giữ kho), lúc còn ở quân thứ Hải – Yên, đến nay, Tôn Thất Thuyết bị cách chức, lưu nhiệm… Đinh Hội dự bàn, Lê Tuấn biện bạch không rõ ràng, nên cũng bị liên can.
(sđd., tr. 208).
++ Tự Đức ra thăm sông Vĩnh Định, Quảng Trị. Phó quản đạo Mạnh Tuyển sửa sông chậm, bị đóng gông, sau đó lại có lệnh tha. Quản đạo Tôn Thất Trường bị giáng 2 cấp. Nhưng rồi cả hai đều được lưu nhiệm.
(sđd., tr. 211).
+++ Tháng sáu âl..
++ Giặc Khách, thổ phỉ vây bức phủ Đoan Hùng (Sơn Tây).
(sđd., tr. 219).
++ Huyện nha Thanh Hà (Hải Dương) bị giặc đốt.
(sđd., tr. 220).
++ Điều tra vụ bố chính tỉnh Cao Bằng Đặng Duy Trinh và Vi Tam lấy lại được thành Cao Bằng hồi tháng tư âl., Tự Đức năm thứ 24 (1871) (xem lại tập 32, sđd., tr. 97 – 98): Hóa ra, Vi Tam là phỉ chứ không phải quân nhà Thanh thuộc quyền của Phùng Tử Tài… (xem tiếp ở tiểu mục tháng 7 âl., Tự Đức năm thứ 30 [1877], tập 34, sđd., tr. 58 – 59) (*).
(sđd., tr. 222 – 223).
---- (*) Nguyên tắc chép sử biên niên: Việc đến đâu, ghi đến đó, “xin xem hồi sau sẽ rõ”. ----
+++ Tháng bảy âl..
++ Giặc Hoàng Anh xin hàng một lần nữa. Vua không cho.
(sđd., tr. 224).
(xem thêm: tập 33, sđd., tr. 225 – 226).
++ Nguyễn Tri Phương sung chức tuyên sát đổng sức đại thần, đến 2 quân thứ Sơn Tây, Hải Dương. Vua ra dụ, nhận xét, phê bình Hoàng Tá Viêm, Lê Tuấn, Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ, Vũ Trọng Bình, Lê Hữu Thường. Về Nguyễn Văn Tường, vua Tự Đức viết: Nguyễn Văn Tường vốn cậy mình tài giỏi, nhưng lúc thì giáng, lúc thì thăng, không biết cảm kích, cố gắng” (nguyên văn). Nguyễn Tri Phương mang bức dụ này đến các quân thứ Sơn Tây, Hải Dương, lệnh cho tướng sĩ, từ Hoàng Tá Viêm trở xuống đều phải quỳ trước hương án nghe tuyên đọc để biết rõ thêm và tự sám hối. Vua áy náy vì phái lão tướng Nguyễn Tri Phương đi, nhưng cũng do đình thần thường xin cử Nguyễn Tri Phương.
(sđd., tr. 224 – 227).
++ Tham tán quân thứ Sơn Tây Ông Ích Khiêm và tán tương Trương Văn Đễ khắc với Hoàng Tá Viêm, rất căng thẳng.
(sđd., tr. 227).
+++ Tháng tám âl..
++ Tán lí quân thứ Sơn Tây Trần Thiện Chính bị cách chức (cấp tiền trái lệ; lấy vợ lẽ lại giả ốm; hút thuốc phiện).
(sđd., tr. 231).
++ Treo giải cho việc bắt được giặc Phùng Văn Tường (người Kinh, thứ yếu phạm, thường được gọi là Quận Tường).
(sđd., tr. 234).
+++ Tháng chín âl..
++ Nguyễn Tư Giản được đặc cách bổ làm tham tri, quyền lãnh thượng thư Bộ Lại, phó tổng tài Quốc sử quán; Ngụy Khắc Đản: thự tham tri, quyền lãnh thượng thư Bộ Binh (thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành có tang, cáo nghỉ)…
(sđd., tr. 238).
++ Đặng Xuân Bảng, thự tuần phủ Hưng Yên, được đổi làm tuần phủ Hải Dương; Nguyễn Đức Đạt: tuần phủ Hưng Yên.
(sđd., tr. 239).
+++ Tháng mười một âl..
++ Thân Văn Nhiếp (tổng đốc Bình – Phú) chết.
(sđd., tr. 248).
++ Cũng tháng mười một âl., Ngụy Khắc Đản sung làm quyền lãnh thượng thư Bộ Công.
(sđd., tr. 253).
++ Hai tàu thủy, một tàu buồm của Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) đến cửa Cấm, tỉnh Hải Dương, xin mượn đường đi Vân Nam. Chúng phối hợp với tàu Bô Len (Bourayne) của Phủ súy Pháp tại Gia Định. Bùi Thức Kiên, Lê Tuấn tìm cách đối phó.
(sđd., tr. 253 – 255).
++ Nước ta nhiều lần gửi quốc thư cho Pháp, vẫn không nhận được thư trả lời của quốc trưởng nước ấy, mà chỉ là thư phúc đáp của tướng Pháp ở Phủ súy Gia Định. Vua Tự Đức cho là khó tin tên tướng Pháp ấy, nên muốn nhờ thống đốc nước Anh chuyển quốc thư giúp, hỏi quốc trưởng Pháp có nhận được các quốc thư của ta đã gửi trước đây không, và về việc có nên đưa sứ bộ trực tiếp sang Pháp không. Thống đốc Anh trả lời: Trở ngại, xin đình việc ấy.
(sđd., tr. 256).
++ Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) chạy tàu thủy qua Hưng Yên.
(sđd., tr. 258).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Quan Viện Cơ mật – Thương bạc xin mở cửa hàng buôn bán ở 3 cửa biển: Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên. Đình nghị: Như thế sẽ có 5 điều lợi nhưng gặp phải 8 điều khó khăn; chưa nên làm vội. Việc ấy ngừng lại ở đó.
(sđd., tr. 267 – 269).

30) Tự Đức năm thứ 26, Quý dậu (1873): 50 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Đoàn tàu thủy Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) tự thị chạy lên Hưng Hóa.
(ĐNTL.CB, tập 32, sđd., tr. 272).
+++ Tháng hai âl..
++ Sai sứ sang nước Thanh (gồm bố chính sứ Quảng Ngãi Phan Sĩ Thục, quản đạo Hà Tĩnh Hà Văn Quan, lãnh lang trung Bộ Hộ Nguyễn Tu), dâng sớ trực tiếp lên vua Thanh về tình hình biên giới Việt – Hoa (nhân dịp đáo lệ tiến cống).
(sđd., tr. 279 – 280).
+++ Tháng ba âl..
++ Sai quan quân thứ vẽ bản đồ cụ thể, chi tiết ở 4 nơi tiếp giáp Tam tuyên.
(sđd., tr. 283).
++ Tướng Pháp ở Gia Định đưa thư tỏ ý muốn giúp ta đánh lui giặc Cờ, giặc biển ở Bắc Kỳ. Vua và đình thần dè dặt.
(sđd., tr. 285).
++ Nguyễn Tri Phương: Phong tỏa sông để ngăn giặc quấy phá. Hoàng Tá Viêm: Sợ lòng giặc bức bách, chúng sẽ làm càn. Vua trách Hoàng Tá Viêm quá sợ!
(sđd., tr. 286).
++ Cuối tháng 3 âl., tán lí quân thứ Sơn – Hưng – Tuyên Tôn Thất Thuyết: hàm thị lang Bộ Binh, thăng thự tham tri, sung chức tham tán. Vua dùng ngụ ngôn, ví Tôn Thất Thuyết có oai tướng như oai hổ (khi hổ đuổi người, cố chết cố sống, người cũng phải vượt sông, hơn là treo thưởng động viên vượt sông).
(sđd., tr. 287).


D. CHƯƠNG NĂM

X. THỜI LÀM PHÓ SỨ BỘ 1873, KÍ “HÒA” ƯỚC GIÁP TUẤT 1874.

+++ Tháng năm âl.
(Quý dậu, 1873).
++ Triệu tập Lê Tuấn (kinh lược), Nguyễn Văn Tường (tán lí), Trần Hy Tăng (đang ở nhà nuôi mẹ già ốm, tạm xin nghỉ) về kinh đô. Nguyên do: tướng nước Pháp ở Gia Định đưa thư yêu cầu ta nhượng hẳn cho chúng 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ bằng “hòa” ước, mặc dù chúng đã chiếm từ 1867 (thư gửi từ tháng giêng âl. năm này). Đình thần sợ rằng đó là ý tướng Pháp ở Gia Định, không phải ý quốc trưởng Pháp, xin đưa sứ bộ sang Ba Lê (Paris) hỏi, về báo cáo, rồi tính liệu sau. Vua cho là phải, nên có lệnh dụ triệu tập trên.
(ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 293).
+++ Tháng sáu âl..
++ Vua ngự ở Điện Văn Minh, triệu Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường vào, từng người một, để hỏi tình hình biên giới phía Bắc.
Lê Tuấn được hỏi về việc biên giới ở Hải Dương, Quảng Yên.
Lê Tuấn trình bày về 3 tổng: 1 ở bãi cát biển, 2 ở hải đảo. Ba nơi ấy tàu thuyền đi đến để đánh giặc đã khó, giặc lại dễ trốn. Hải Dương lại quá nhiều đường sông; cách Quảng Yên, Nam Định chỉ một ngày đường, lại có đến 7, 8 cửa biển…
Nguyễn Văn Tường được hỏi: Việc biên giới Bắc Kỳ sao lâu rồi vẫn không xong? Nguyễn Văn Tường trình bày: Thượng du nước độc, lam chướng nhiều; quân nhiễm bệnh lắm. Vua: Kĩ nghệ quân sự của quân Thanh có hơn gì ta, sao giặc lại sợ? Nguyễn Văn Tường: Quân Thanh phần lớn là người thượng du, đã quen sơn lam chướng khí. Vua: Không nên dùng quân quá 3 năm, mà nay đã 4, 5 năm; làm sao xong việc dẹp giặc phỉ? Nguyễn Văn Tường: Đã hết lòng hết sức, nhưng thế và lực không thể sớm xong được. Vua: Mong yên phía Bắc để tính việc khác, không ngờ kéo dài đến thế…
Vua bảo Bộ Binh (Trần Tiễn Thành): Giặc có súng thần công kiểu mới, súng lục kiểu Tây, vỏ đồng, bắn nhanh; hỏi mua ở đâu, để kịp mua dùng?
Vua lại triệu Lê Tuấn vào, hỏi về Hoàng Tá Viêm và Lê Hữu Thường. Lê Tuấn tâu nhận xét. Vua lại hỏi về vùng Cát Bà. Lê Tuấn đáp: Đó là nơi giặc giấu của cải cướp được và người Thanh ở đấy tiêu thụ giúp.
(sđd., tr. 300 – 303).
++ Sứ bộ sang Tây: Lê Tuấn (thượng thư), Nguyễn Văn Tường (tạm mang hàm tham tri), Nguyễn Tăng Doãn (hồng lô tự khanh, sung làm tham biện). Sứ bộ sẽ vào Gia Định hội đàm với toàn quyền đại thần Pháp Du Bi Lê (Dupré) để định “hòa” ước trước (*), rồi sau đó sẽ sang Pháp.
(sđd., tr. 304).
---- (*) Ngày 16 tháng 6 nhuận, âl., sứ bộ về cửa biển Thuận An. Hôm sau, ngày 17, lên tàu khởi hành vào Gia Định. ----


(Hết CHƯƠNG BỐN.
CHƯƠNG NĂM còn tiếp.
Xin xem tiếp tệp 4).


_____________________

Việt Nam, TP. HCM.,
thứ năm (thứ sáu cũ), ngày 03-02 HB6 [ 2006 ]
( mùng sáu tháng giêng, Bính tuất HB6 ).


_____________________

ĐÍNH CHÍNH
(ngày 05 tháng chín HB6 [2006]):

Người biên soạn đã gõ phím vi tính sai 2 chữ ở đoạn "Tự Đức năm thứ 23, Canh ngọ (1870): [...]

[...]
++ Cũng tháng 10 âl., giặc phỉ Tô Tứ đánh úp thành Lạng Sơn. Lãnh binh quan Lê Văn Dã tử trận; Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán vượt thành chạy. Nguyên nhân: thành bị bỏ trống, thiếu quân, do Ông Ích Khiêm và Hoàng Tướng Hiệp rút quân đi đánh phỉ ở Nà Dương. Nghe có biến, Ông Ích Khiêm đưa quân về Kỳ Lừa.
Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, Đặng Toán bơi qua sông, hội bàn
. [...]".

Xin đính chính lại như trên.
Thành thật cáo lỗi cùng quý người đọc.
Trần Xuân An

1.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 2)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)
(tệp 2)



C. CHƯƠNG BA

IV. THỜI LÀM VIÊN NGOẠI LANG BỘ BINH (?) VÀ ÁN SÁT QUẢNG NAM (?)
(*)
---- (*) Theo tư liệu chi tộc phả Nguyễn Văn làng An Cư, Triệu Phong, Quang Trị, do nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc sao chép: Nguyễn Văn Tường có một thời gian ngắn là viên ngoại lang Bộ Binh, án sát Quảng Nam trước khi làm biện lí Bộ Binh (tháng 01 âl.. Giáp tí, 1864).
Người biên soạn cuốn sách này (TXA.) khảo chứng và nhận thấy, mặc dù ĐNTL.CB. không ghi nhận cụ thể công việc ông được triều đình giao, nhưng vẫn ghi rõ ông được xét công, thăng chức, nâng bậc từ 1859 đến 1866 (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 32 – 34). ----


20) Tự Đức năm thứ 16, Quý hợi (1863): 40 tuổi.
+++ Tháng tư âl..
++ Biện lí Bộ Hình Trần Đình Túc sung làm doanh điền sứ (khai hoang) Thừa Thiên, Quảng Trị.
(ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 18).
+++ Tháng năm âl..
++ Hiệp biện đại học sĩ Phan Thanh Giản, Lại bộ tả tham tri Pham Phú Thứ, án sát Quảng Nam Ngụy Khắc Đản đi sứ sang Pháp để bàn lại “hòa” ước 1862.
(sđd., tr. 21 – 25).
++ Mùa viêm nhiệt. Tổng kết từ năm trước đến năm nay, ở Thừa Thiên, Quảng Trị, chết vì bệnh dịch đến 3.600 người.
(sđd., tr. 26).
+++ Tháng bảy âl..
++ Từ Quảng Bình, Quảng Trị trở vào Nam, và từ Nghệ An, Thanh Hóa, đến Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Cao Bằng, các tỉnh ấy đều thỉnh thoảng phát ra dịch lệ.
(sđd., tr. 31).
++ Tháng mười hai âl..
++ Vua cho lập chức hương thân ở các làng thôn, gồm các nhân sĩ có đạo hạnh, không dự việc làng, để chuyên giảng giải cho dân đừng theo “tả đạo”, khi bị “hòa” ước buộc phải cho truyền bá đạo Thiên Chúa này.
(sđd., tr. 44).

V. THỜI LÀM BIỆN LÍ BỘ BINH TẠI KINH ĐÔ HUẾ
21) Tự Đức năm thứ 17, Giáp tí (1864):
41 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Hữu thị lang Bộ Lại Thân Văn Nhiếp, biện lí Bộ Binh Nguyễn Văn Tường đi thăm xét dân tình, địa thế các châu trong huyện Thành Hóa, Quảng Trị, với một số quân lính đầy đủ khí giới, và quà tặng.
(ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 51).
+++ Tháng hai âl..
++ Thừa Thiên, Quảng Trị bị bão.
(sđd., tr. 62).
++ Đặng Hạnh thay Tôn Thất Đính làm đề đốc kinh thành.
(sđd., tr. 63).
++ Đặt thêm chức phó quản đạo Quảng Trị.
(sđd., tr. 65).
++ Sứ bộ sang Pháp về tới kinh đô Huế
(sđd., tr. 66).
+++ Tháng năm âl..
++ Toàn quyền sứ thần Pháp Hà Ba Lí (Aubaret) đến kinh đô Huế để định lại “hòa” ước 1862.
(sđd., tr. 84 – 86).
++ Kinh doãn vẫn là Nguyễn Hữu Dương.
(sđd., tr. 87).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đình thần dâng mật sớ xin giữ “hòa” ước cũ, vì “hòa” ước mới rất đáng ngại (Pháp vẫn đòi chiếm đóng Sài Gòn, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một; đồng thời “bảo hộ” cả 6 tỉnh Nam Kỳ, túc là toàn bộ Nam Kỳ; và Đại Nam phải trả cho Pháp mỗi năm 2.000.000 nguyên tiền thuế!) (*).
---- (*) Một số tên thực dân không đồng ý với sự sửa đổi này, muốn chiếm cả 6 tỉnh, biến cả Nam Kỳ thành thuộc địa hẳn! (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược [VNSL.], b. 1964, sđd., tr. 498). ----
(sđd., tr. 92 – 93).
(xem lại: sđd., tr. 84 – 86).
++ Nguyễn Hữu Dương bị giáng: phủ thừa.
(sđd., tr. 95).

VI. THỜI LÀM PHỦ DOÃN THỪA THIÊN (THỐNG HẠT ĐẠO QUẢNG TRỊ)
++ Tình hình sôi lên vấn đề lương – giáo: khích bác nhau. Vua thấy cần phải chọn người giỏi để hiểu bảo ở hai điểm nóng và cũng là hai địa hạt lớn: Thừa Thiên, Nghệ An. Do đó, biện lí Nguyễn Văn Tường thay Trần Tiến Thọ (đang bị dân kiện, đợi xét), biện lí Ngụy Khắc Đản làm bố chính sứ thay Đoàn Văn Hội.
(sđd., tr. 97 – 98).
+++ Tháng bảy âl..
++ Thi hương ở trường Thừa Thiên, có sĩ tử nộp quyển chậm, mãi đến giờ tuất (19 – 21 giờ). Gia ân rộng giờ từ đấy.
(sđd., tr. 104).
++ Vụ nổi dậy của Hồng Tập tại kinh đô Huế.
(sđd., tr. 152 – 156).
+++ Tháng chín âl..
++ Các binh đinh thuộc hộ đánh cá Thừa Thiên (đội binh Nội Cần) thiếu ngạch lính.
(sđd., tr. 117).
++ Phủ thần Thừa Thiên (*) cùng với khoa đạo, thị vệ chia nhau đi các phủ hạt để phát chẩn cho dân, do bão lụt.
(sđd., tr. 118).
---- (*) Phủ thần Thừa Thiên gồm phủ doãn (kinh doãn, tức là bố chính sứ ở kinh sư, vào thời điểm này kiêm quản cả đạo Quảng Trị), phủ thừa (án sát sứ kinh sư) và đề đốc kinh thành (đạo Quảng Trị có lãnh binh quan riêng). Phủ doãn là người đứng đầu trong 3 vị phủ thần Thừa Thiên và chịu trách nhiệm chính. Người biên soạn (TXA.) vẫn khảo sát Nguyễn Văn Tường sau danh từ chỉ chung này (phủ thần), với sự lưu ý về chức năng riêng của phủ doãn (kinh doãn). ----
++ Phủ thần Thừa Thiên thăm xét các dân đói Nam – Ngãi phiêu tán ra, giao người còn khỏe mạnh cho doanh điền sứ Trần Đình Túc, người già ốm, trẻ nhỏ cho Sở Dưỡng tế.
(sđd., tr. 120 – 121).
++ Cũng tháng 9 âl., cho các bần nông Thừa Thiên vay tiền, thóc; sửa chữa đường sá bị sụt lở để họ có công ăn việc làm.
(sđd., tr. 126 – 127).
+++ Tháng mười âl..
++ Xây dựng nghĩa địa ở kinh đô cho người chết đường chết chợ, di táng mộ không ai thăm viếng.
(sđd., tr. 138 – 139).
++ Cũng tháng 10 âl., phủ thần tạm lãnh trước tiền công, thu mua hóa đơn gạo lương; chẩn cấp cho xã Thai Dương bị hỏa tai; xuất thóc bán cho dân thiếu đói, cấp tiền vốn công cho dân nghèo Quảng Trị đi đẵn gỗ.
(sđd., tr. 140, 141, 144).
+++ Tháng mười một âl..
++ Phủ doãn Nguyễn Văn Tường được kiêm chức khuyến nông sứ, đi khắp tỉnh Thừa Thiên, đạo Quảng Trị, xem xét địa thế, tùy chỗ mà cho khai khẩn.
(sđd., tr. 148).
++ Cũng tháng 11 âl., phủ thừa Nguyễn Hữu Dương làm lễ đảo vũ để bớt sâu ăn lúa; vua xuống dụ tự phê bình, xuống sắc khuyên nhắc các quan cả nước.
(sđd., tr. 149).
++ Chuẩn định từ tháng 9 âl., nay Tự Đức cho khởi công xây dựng “Vạn Niên cát địa” (Khiêm lăng), tại xã Dương Xuân.
(sđd., tr. 131).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Đình bãi việc đánh thuế trường mậu dịch huyện Thành Hóa, Quảng Trị (đạo thần Đinh Văn Khoa: khác với ý kiến trên của huyện thần Nguyễn Duy Tự; vua theo ý kiến của Nguyễn Duy Tự); miễn thuế đinh cho dân nghèo Quảng Trị.
(sđd., tr. 150).
++ Cũng vào tháng này, vua xét tình hình sĩ tử các trường thi (Thừa Thiên, Hà Nội, Nam Định): bàn luận không tán thành việc nghị “hòa” với Pháp, đồng thời niêm yết bích chương với nội dung phản đối, làm sôi động khắp nơi. Các quan dạy học và quan tỉnh đạo đều bị cách, lưu lại hoặc giáng một cấp, lưu chức vì nguyên nhân đó; riêng Doãn Khuê, Cát Văn Tụy, bị giáng 4 cấp, vẫn được lưu nhiệm.
(sđd., tr. 152).
++ Xét vụ nổi dậy Hồng Tập (mưu giết Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành, đồng thời “sát tả”…). Do canh tuần cẩn mật, phát hiện ra vụ việc, Đặng Hạnh được tặng thưởng cao nhất, Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Hữu Dương đều được thưởng gia một cấp, và mỗi người một chiếc nhẫn nạm pha lê.
(sđd., tr. 154 – 156).

22) Tự Đức năm thứ 18, Ất sửu (1865): 42 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Theo lệnh vua, phủ thần xuất gạo kho cho dân ven biển, men núi vay vì gặp đói kém, phát chẩn cho dân phiêu tán từ Quảng Nam ra; khơi sông cũ An Vân ở Thừa Thiên.
(ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 161).
++ Vua Tự Đức bàn kế sách “đoạn tuyệt” với Nam Kỳ trước yêu sách của Pháp; nhưng về sau vẫn thực hiện chiến lược “lưỡng toàn” (vừa “đoạn tuyệt”, vừa ngầm ủng hộ kháng chiến).
(sđd., tr. 162 – 163).
(xem: ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 49).
+++ Tháng hai âl..
++ Phủ thần Thừa Thiên cùng các tỉnh đạo thần (Quảng Nam…) làm nhà tạm, chi muối gạo để nuôi dân đói, cấp thuốc, chôn người chết đói, theo dụ của vua và lời tâu của Hoàng Văn Tuyển.
(sđd., tr. 170 – 171).
++ Vua trách tri huyện Thành Hóa, Quảng Trị Nguyễn Duy Tự không phải là người trọng hậu như Nguyễn Văn Tường trước đây, bảo Thân Văn Nhiếp và Nguyễn Văn Tường suy xét. Sau đó, Thân Văn Nhiếp tâu xin cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình Túc cáng đáng việc đó. Nguyễn Văn Tường tự nguyện từ chức phủ doãn để dấn thân vào chốn sơn lam chướng khí ấy, nhường chức phủ doãn cho Trần Đình Túc. Vua muốn biết tài năng Nguyễn Văn Tường ở cương vị phủ doãn, nên không đồng ý; cho phép Nguyễn Văn Tường cùng Trần Đình Túc bàn định công việc doanh điền của phủ Thừa Thiên và đạo Quảng Trị, được quyền bàn chọn viên quản đạo và tri huyện.
(sđd., tr. 171 – 172) (*).
---- (*) Đây là một chi tiết rất đáng lưu ý, được Quốc sử quán ghi chép khá dài trong ĐNTL.CB., tập 30, sđd., số trang ghi trên. ----
++ Cũng vào tháng này, Vũ Tập (Hồng Tập) bị xử chém về vụ chống đối việc “hòa” nghị với Pháp (Hoàng Diệu, người Quảng Nam, ở trong đội thi hành án (**)). Một số quan muốn chữa tội danh bị kết án cho Hồng Tập, mặc dù ông đã bị chém rồi, nhưng không được vua và triều thần chấp thuận. Các quan ấy bị giáng cấp.
---- (**) Hoàng Diệu về sau tử tiết tại thành Hà Nội.
Xem: mục tháng ba âl., Nhâm ngọ (1882). ----

(sđd., tr. 172 – 173).
++ Vua xuống dụ tự phê bình, trông mong lời nói thẳng.
(sđd., tr. 174).
++ Cuối tháng hai âl. này, Trương Đăng Quế chết tại quê nhà Quảng Ngãi.
(sđd., tr. 177 – 178).
+++ Tháng ba âl..
++ Giặc biển cướp các xã ở Thuận An, Thừa Thiên và ấp An Cư ở cửa biển Hải Vân, cũng thuộc Thừa Thiên.
(sđd., tr. 183, 184 – 185).
++ Cũng tháng ba âl. này, phủ doãn Thừa Thiên Nguyễn Văn Tường dâng tập tâu lên vua, nội dung bàn về vấn đề phòng đói và cứu đói cho dân, gồm bốn khoản. Trong đó, có 3 khoản đề cập trực tiếp với biện pháp cụ thể (*):
---- (*) Quốc sử quán chép lại nguyên văn bản tấu. ----
a. Với dân ven núi: cấp tiền gạo cho dân đẵn củi, đốt than; các thuộc viên sẽ đến tận làng thu mua theo giá chợ.
b. Với dân chài ven biển: cấp vốn hoặc gạo để dân mua ngư cụ. Và cũng như đối với dân miền núi, dù thời hạn khác nhau, phủ đạo sẽ thu hồi tiền vốn cho vay.
c. Các thửa ruộng của các xã đã cầm cố cho nhà giàu, nhà giàu phải trả lại để dân chia đều (quân cấp) cày cấy. Cần tiến hành việc hạn điền: không quá 5 mẫu với những ai đã có từ 1 đến 2 mẫu ruộng tư; ai có trên 5 mẫu ruộng tư phải trả lại số ruộng công mà họ nhận cầm cố. Để tiến hành được, phải vận dụng luật pháp. Mặt khác, nếu đã chia đều ruộng, mà binh dân không cày cấy nổi, có quyền cho làm rẽ (lĩnh canh, gặt chia đôi); ai thiếu vốn, kinh phủ cấp bằng hình thức cho vay không lấy lãi, để có thể tự cày cấy.
Đây là một quan điểm về ruộng đất rất tiến bộ và tích cực trong thời bấy giờ của Nguyễn Văn Tường.
d. Dời huyện lị Hương Thủy để dễ cứu giúp và thuận lợi khi khẩn yếu, vì có dời chuyển đến vị trí mới, mới thuận tiện về đường thủy, đường bộ; đề xuất quan huyện Hương Thủy kiêm nhiếp huyện Phú Lộc.
Vua đồng ý về 3 khoản, và nhận định vấn đề ruộng công bị cầm cố thật tệ hại từ lâu, nhưng chưa dám khinh suất đồng ý. Vua giao cho Bộ Hộ duyệt bàn. Bộ Hộ cho rằng trả ruộng công bị cầm cố chỉ hại dân mà thôi! Cuối cùng, không thi hành.
(sđd., tr. 186 – 188).
Ý của Bộ Hộ cho rằng tập trung ruộng công (công điền) vào địa chủ tốt hơn, thây mặc dân nghèo và neo đơn (không có vốn đầu tư và không đủ sức lao động)! Đúng là thực tế tàn nhẫn!
Thời điểm này, Phan Thanh Giản là thượng thư Bộ Hộ.

(sđd., tr. 268).
+++ Tháng tư âl..
++ Khơi sông Vĩnh Định, Quảng Trị.
(sđd., tr. 190).
++ Vẫn tháng này, quan sở tại (phủ thần) lại xem xét, nuôi cấp người nghèo, neo đơn; cấp lương thực cho người xiêu giạt về quê, tự lực.
(sđd., tr. 190).
++ Giặc biển cướp đồn Tư Hiền. Đề đốc Nguyễn Cửu Lễ, phủ thừa Vũ Khắc Bí phục kích, bắn dẹp.
(sđd., tr. 195).
++ Vẫn tháng 4 âl., phủ thần Thừa Thiên xin đem gia đình Đinh Đạo (Ưng Đạo: con Hồng Bảo), gồm 4 người, tới mộ Hồng Bảo (anh ruột, cùng cha khác mẹ, của vua Tự Đức) để cúng tế khi được lệnh cho cải táng.
(sđd., tr. 197).
+++ Tháng năm âl..
++ Đề đốc kinh thành Nguyễn Cửu Lễ xin tăng cường phòng thủ mặt biển; các đại thần (Phan Thanh Giản, Đoàn Thọ, Trần Tiễn Thành…) đến khám xét.
(sđd., tr. 202 – 203).
++ Lưu Hội thay Nguyễn Cửu Lễ, làm quyền đề đốc kinh thành; Nguyễn Cửu Lễ ra Bắc.
(sđd., tr. 204).
++ Phủ Thừa Thiên tu sửa, xây dựng lại trường thi Thừa Thiên.
(sđd., tr. 215).
+++ Tháng sáu âl..
++ Nguyễn Văn Tường đi khám xét sông Vĩnh Định, Quảng Trị, khuyến khích khởi công về việc trị thủy.
(sđd., tr. 226).
++ Phủ thần Thừa Thiên xin cấm thuyền buôn Quảng Nam ra mua gạo vì giá gạo ở kinh đô đã quá đắt đỏ. Vua sai Bộ Hộ cấp vốn cho thuyền buôn, vào Vĩnh Long buôn gạo ra.
(sđd., tr. 228, tr. 229).
++ Định lệ chia đều ruộng công lại (3 đến 6 năm).
(sđd., tr. 230).
++ Phủ huyện thần cùng các quan nha, bộ chia nhau đi chẩn cấp cho dân Nam – Ngãi xiêu tán.
(sđd., tr. 230).
+++ Tháng bảy âl..
++ Sông Vĩnh Định (tỉnh Quảng Trị) khơi xong. Nguyễn Bỉnh, Nguyễn Đức Đạt đến khám và dựng bia.
(sđd., tr. 237).
++ Tri huyện Đăng Xương (Quảng Trị) Trần Cương và bố là Trần Kinh bức dân chiếm của, bị cách, giáng đổi; người tiến cử bị truy xét.
(sđd., tr. 238 – 239).
+++ Tháng chín âl..
++ Thị độc học sĩ Phan Trung theo lời dụ của vua ra kinh đô Huế.
(sđd., tr. 255).
++ Cho người lạc quyên ra làm việc.
(sđd., tr. 256).
++ Pi E Tạ Văn Phụng (Pierre Phượng, Pi-e Phụng) và các đầu sỏ, tàn quân bị trôi giạt vào biển Quảng Trị, Thừa Thiên; đều bị bắt đóng cũi, giải về kinh.
(sđd., tr. 258 – 259).
++ Phủ Thừa Thiên khám ao sen đã hóa ruộng của Phú Bình công Miên Áo (cha của Hồng Tập), bị con cái bán cho Ninh Thuận công: Miên Áo cũng bao chiếm trái phép!
(sđd., tr. 260 – 261).
+++ Tháng mười âl..
++ Lệnh cho kinh doãn và các tỉnh thần tiến cử người tài đức. Tự Đức nhắc lại: “Tiến được người tài, sẽ được thưởng hậu; che giấu [ém tài], sẽ bị giết” , theo tinh thần xưa truyền lại.
(sđd., tr. 267 – 268).
++ Xử chém, bêu đầu bọn giặc Pi E (Pierre) Tạ Văn Phụng tại pháp trường Bắc Dã, sau đó đóng hòm thủ cấp chuyển đi các tỉnh (đã mổ tim gan [theo kiểu trung cổ!], tế vong hồn tướng sĩ trận vong).
(sđd., tr. 275 – 276).
+++ Tháng mười một âl..
++ Nuôi tằm ở Thái Thường tự. Phủ thần Thừa Thiên gọi thuê người.
(sđd., tr. 280).
++ Đặt chức điển học, tương đương đốc học, ở Quảng Trị.
(sđd., tr. 283).
++ Ủy lạo các “cống man” đạo Cam Lộ, Quảng Trị.
(sđd., tr. 283).
++ Phủ thần Thừa Thiên xin phòng kiểm nghiêm thêm đối với gia đình Đinh Đạo (quan hệ với phò mã Nguyễn Đình Tứ – con trai Nguyễn Đình Tân [bố vợ của nhà vua]). Vua Tự Đức hỏi Tôn nhân phủ, đình thần và phủ doãn Nguyễn Văn Tường về biện pháp xử trí. Nguyễn Văn Tường thưa: Không dám bàn, chỉ xin chia ghép các người em Đinh Đạo ở các tỉnh gần…
(sđd., tr. 286 – 287).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Vua chấn chỉnh lại Viện Đô sát. Phủ Thừa Thiên thuộc đạo Kinh kì (gồm với Phủ Tôn nhân, Nội các); các mặt đều do đạo này kiểm xét.
(sđd., tr. 289 – 290).
++ Vua lấy ý kiến các triều thần và phủ, tỉnh, đạo thần về việc cấm hẳn hay đánh thuế nặng thuốc phiện (xem như cấm; chỉ người giàu mới hút nổi). Có hai ý kiến. Phủ Thừa Thiên và một số tỉnh thần khác thuộc về ý kiến thử nghiệm biện pháp đánh thuế nặng vài năm, xem sao.
(sđd., tr. 294 – 296).
(xem lại: sđd., tr. 163 – 164).
Trong lúc đó, Pháp áp đặt số tiền thuế thuộc phiện rất lớn ở Nam Kỳ, buộc phải tiêu thụ rộng rãi trong nhân dân ba tỉnh Miền Đông lục tỉnh.
Triều đình đã thi hành một biện pháp tai hại để bù đắp vào số “chiến phí” bị thực dân Pháp cưỡng bức và bót lột!


23) Tự Đức năm thứ 19, Bính dần (1866): 43 tuổi.
+++ Tháng hai âl..
++ Nhân đợt xét công 2 khóa, gồm 6 năm (1859): thự phủ doãn Nguyễn Văn Tường mới được thăng chức, nên chỉ được thưởng thêm một cấp.
(ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 12 – 14).
+++ Tháng năm âl..
++ Thừa Thiên và các tỉnh khác được mùa.
(sđd., tr. 34).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đạo đồ Nguyễn Hoằng (người Hương Khê, Hà Tĩnh) biết tiếng Pháp, được điều về kinh đô Huế.
(sđd., tr. 41).
+++ Tháng bảy âl..
++ Tự Đức và triều thần bàn kế sách “lưỡng toàn” đối với Nam Kỳ.
(sđd., tr. 49).
(xem lại: mục tháng 01, Ất sửu [1865]).
++ Phạm Phú Thứ: Xin đặt chức tuyên phủ sứ ở 4 tỉnh, trong đó có 1 chức ở Cam Lộ, Quảng Trị (trước đó đã có, nhưng bị bãi bỏ một thời gian); bề ngoài là buôn bán ở thành, ở chợ, bên trong là việc quân; lại tâu bàn về vấn đề lưu quan (Kinh), thổ quan (Thượng). Vua cùng đình thần chỉ nhất trí thi hành ở Cam Lộ, và vẫn đặt lưu quan, còn thế tập thổ tù thì phải xem lại.
(sđd., tr. 50).

VII. THỜI BỊ CÁCH CHỨC, LẠI ĐƯỢC PHÁI ĐI LÀM BANG BIỆN HUYỆN THÀNH HÓA (QUẢNG TRỊ), ĐI ĐẤU TRANH VỀ NGOẠI GIAO TẠI GIA ĐỊNH (NAM KỲ), ĐƯỢC CỬ VÀO SỨ BỘ DỰ ĐỊNH ĐI PHÁP VÀ CÁC NƯỚC CHÂU ÂU.
+++ Tháng tám âl..

++ Ngày 8 tháng 8 âl., năm Bính dần (1866), nổ ra cuộc đảo chính do Đoàn Trưng lãnh đạo (khởi nghĩa Chày Vôi). Phủ doãn Nguyễn Văn Tường, phủ thừa Vũ Khắc Bí, hộ thành phó sứ Nguyễn Tuần, tri huyện Hương Thủy Nguyễn Thừa Huy đều bị cách chức, cho làm việc chuộc tội. Đề đốc Nguyễn Hữu vì mới nhiệm chức, bị giáng xuống làm suất đội Cấm binh. Tất cả đều vì sơ suất việc canh phòng, kiểm sát.
(sđd., tr. 53 – 57).
++ Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình lập tức được điều về kinh.
(sđd., tr. 58).
++ Nguyễn Tri Phương: giữ Bộ Binh, Hải phòng sứ kinh kì. Vũ Trọng Bình: giữ Bộ Lại, kiêm quản Quốc tử giám. Cả hai đều được sung chức Cơ mật viện đại thần.
(sđd., tr. 59).
+++ Tháng chín âl..
++ Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình dâng sớ về việc xây dựng “Vạn Niên cát địa” và vụ Đoàn Trưng. Trong đó, có thêm một ý là xin vua xuống chiếu tự trách mình. Tự Đức lần này lại không muốn công khai tự phê!
(sđd., tr. 62 – 63).
+++ Tháng mười âl..
++ Quan quản đạo Quảng Trị Nguyễn Quýnh (Nguyễn Quang Quýnh (*)) dâng sớ: Xin dời kinh đô; đem các tỉnh lên thượng du; từ Nghệ An vào Nam, khai khẩn miền núi; lại xin đặt đồn Ba Xuân (Quảng Trị). Nguyễn Quýnh vốn là người được Nguyễn Văn Tường chọn làm quản đạo Quảng Trị theo sự cho phép của vua trước đây. Vua bảo: “Trước Nguyễn Văn Tường cũng xin nhận làm việc ấy, tất phải làm theo lời nói” (nguyên văn). Và chuẩn cho Nguyễn Văn Tường làm bang biện huyện Thành Hóa, được cấp ấn khâm phái quan phòng, cho được tự ý tư tâu (theo chủ kiến, tự tâu trực tiếp lên vua). Dẫu sao, ý vua và Cơ mật viện vẫn muốn lần lữa.
(sđd., tr. 86 – 87).
---- (*) “Nguyễn Quang Quýnh, người xã Bàn Thạch, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam; làm quan tới chức bố chánh, bị cách; được phục chức quản đạo, lại bị cách”. Xem: “Quốc triều hương khoa lục, sđd., tr. 178. ----
+++ Tháng mười một âl..
++ Bang biện Thành Hòa huyện vụ Nguyễn Văn Tường dâng tập tâu về đồn Trấn Lao: Nên khai hoang, đưa dân đến ở, vì nghe bọn Tây dương sắp phái người chiếm đất từ hướng Lào sang; nên chọn người Khách (Minh Hương, Thanh) và đầu mục Cao Bằng để khai khẩn… Vua y cho.
(sđd., tr. 89).
+++ Tháng mười hai âl..
++ “Hoang man” tranh chấp với “thục man”. Quan tỉnh xin vua sai Nguyễn Văn Tường xét xử theo tục người Thượng.
(sđd., tr. 100).
++ Bang biện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường tâu bày 6 điều về Sơn phòng đạo Cam Lộ, Quảng Trị (*).
---- (*) Quốc sử quán trích nguyên văn bản tấu này. Xem: ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 103 – 104. ----
1) Binh đội Thiên Thiện và số lính bị tù khổ sai, xin được đưa đến để khai khẩn (*).
---- (*) Vua Tự Đức có lần nhận định: “Quân cảm tử phần nhiều ở trong đám tù phạm; chọn lấy kẻ dũng cảm; [vấn đề] chỉ ở tướng kheo khuyên dùng mà thôi” (nguyên văn) (ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 191). ----
2) Mở con đường thượng du từ Tây Sơn, Bình Định đến Trấn Ninh, Nghệ An, ngang qua Cam Lộ để chống giặc, phòng giữ cho nhau.
3) Mộ thêm lính Định “Man” để vỡ hoang, lập làng (ruộng một nửa sẽ là thế nghiệp [ruộng tư, nối đời thừa kế], một nửa sẽ là công điền) với các chi phí và chu cấp.
4) Không thu thuế ở đó nữa, mà phái người mua bán với dân để thu lãi cho ngân sách; và di dời chợ.
5) Cắt một số tổng của Do Linh, Đăng Xương để cùng sáp nhập thêm với một số phường thượng nguyên mới lập vào Thành Hóa; lại dời huyện nha.
6) Lập hộ lấy gỗ chịu thuế; sáp nhập giản binh vào cơ Định “Man”.
Vua y theo.
(sđd., tr. 103 – 104).
Trong 6 điều đó, điều 2 chính là việc khôi phục con đường mòn của Quang Trung (?) và sau này là đường mòn Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn.
Đây là một ý tưởng có tầm chiến lược.
Các điều khác là những công việc tạo nên tiền đề của căn cứ Tân Sở sau này
.

24) Tự Đức năm thứ 20, Đinh mão (1867): 44 tuổi.
+++ Tháng hai âl..
++ Giặc biển đóng ở phận biển Quảng Trị, quấy nhiễu và tiến vào cướp bóc ở Thừa Thiên. Vua sai quân đánh dẹp.
(ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 110 – 111).
++ Bang biện huyện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường lại tâu: Cho dân Thiên Chúa giáo lên Cam Lộ khẩn hoang, nhưng chỉ cho số dân Thiên Chúa giáo chưa vào sổ đinh; sắp xếp ở gần dân lương để tiện kèm giữ và để biết rõ số lượng dân lậu, đồng thời cũng để mở rộng vùng dân cư. Cơ mật viện dè dặt và vua theo ý Cơ mật viện.
(sđd., tr. 116).
+++ Tháng ba âl..
++ Quan quản đạo Quảng Trị là Đinh Văn Khoa xin chiêu phủ 3 châu Ba Lan, Tầm Bồn, Mang Bổng. Vua ngại, vì đã trả cho Lào; sai Nguyễn Văn Tường xem xét. Ông xin để im.
(sđd., tr. 118).
+++ Tháng sáu âl..
++ Pháp chiếm ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Phan Thanh Giản “dâng” 3 tỉnh ấy rồi tự sát bằng cách tuyệt thực [và uống độc dược].
(sđd., tr. 133 – 135).
++ Cũng tháng này, có nhiều nguồn tin ở Nghệ An, Quảng Bình về việc người Pháp đến sông Khung Giang (Mê Kông) mua chuộc dân Lào. Vua sai bảo quan, dân tỉnh Nghệ An, dân huyện Cam Lộ (Quảng Trị) phải luôn do thám.
(sđd., tr. 137).
+++ Tháng bảy âl..
++ Lại khơi sông Vĩnh Định, Quảng Trị (Trần Đình Túc khơi đền, bởi lần trước khơi chưa thông dòng).
(sđd., tr. 146).
+++ Tháng tám âl..
++ Thừa Thiên, Quảng Trị và một số tỉnh phía Bắc bị bão.
(sđd., tr. 165 – 166).
+++ Tháng chín âl..
++ Bàn về công, tội: Nguyễn Tri Phương và các quan quân liên đới trong việc chiến đấu chống Pháp và chiến bại; Phan Thanh Giản và các quan chức khác với tư tưởng chủ “hòa” trong việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ.
(sđd., tr. 168 – 169).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Hiệp biện đại học sĩ Trần Tiễn Thành cùng bang biện huyện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường đi tàu thủy vào Gia Định bàn điều ước mới. Vua dặn: Không được toàn quyền quyết định; phải biên rõ từng khoản bàn định thế nào để đem về, vua và đình thần xem lại.
(sđd., tr. 184).

25) Tự Đức năm thứ 21, Mậu thìn (1868): 45 tuổi.
+++ Tháng hai âl..
++ Trần Tiễn Thành bị giáng xuống tả tham tri Bộ Công nhưng hàm chức vẫn như cũ (vẫn lãnh thượng thư…), vì chuyến đi bàn định điều ước vừa rồi thất bại.
(ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 194).
++ Lai lịch đầu sỏ giặc Ngô Côn: tên khác là Trung, Á Chung, hay còn gọi là Hòa Khanh; trước đây quấy nhiễu ở xứ Quy Thuận (Trung Hoa) (y vốn là tàn quân Thái Bình thiên quốc). Khi quân Thanh đánh đuổi, chúng bèn tràn sang nước ta, lại nhập bọn với giặc dã (giặc cỏ) xin ra thú. Quan quân nước ta đã sắp xếp cho chỗ ở. Nay chúng lại làm phản.
(sđd., tr. 198).
+++ Tháng ba âl..
++ Bang biện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường được gia hàm thị độc học sĩ, sung làm bồi sứ của sứ bộ dự định sang Ba Lê (Paris, thủ đô nước Pháp) và một vài nước châu Âu khác. Ông cùng đi với Nguyễn Văn Phong, chánh sứ, Phan Đình Bình, phó sứ. Nguyên trước đây, Pháp đã chiếm thêm 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), chúng làm “hòa” ước mới, buộc triều đình Đại Nam đóng ấn, kí tên. Vua bèn cử sứ bộ sang Ba Lê (Paris), tỏ ý muốn chuộc 3 tỉnh Miền Đông, nhường Pháp 3 tỉnh Miền Tây và xóa hết điều khoản bồi thường “chiến phí”…; đồng thời sứ bộ cũng đi vài nước châu Âu khác để vận động ủng hộ. Nguyễn Văn Tường thay mặt sứ bộ vạch trần âm mưu xâm lược và mưu kế lập “hòa” ước của Pháp [lừa ta vào bàn hội nghị về “hòa” ước, sau đó lại làm sức ép] (*). Thực chất của việc lập “hòa” ước mới là để chính thức hóa, hợp pháp hóa chủ quyền cho Pháp trên 6 tỉnh Nam Kỳ mà thôi, nhằm để sĩ phu lâm vào tình cảnh bị “bán đứt”, khó ăn khó nói. Ý Nguyễn Văn Tường là không muốn sa vào mưu kế của Pháp. Ta không nên kí “hòa” ước mới. Vấn đề chỉ có thể giải quyết bằng vũ trang. Điều cần thiết trước mắt là phải chấn chỉnh, tăng cường binh lực và sự phòng thủ.
Sau bản tấu nghị ấy, Nguyễn Văn Tường về lại Cam Lộ (Quảng Trị), tiếp tục xây dựng cơ sở kháng chiến.
(ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 202 – 204).
---- (*) Quốc sử quán ghi chép lại nguyên văn bản tấu này. ----
Tư tưởng giải quyết vấn đề bằng vũ trang, chứ không chỉ bằng ngoại giao, là rất đúng đắn và thiết thực. Con đường “hòa” nghị chỉ là ảo tưởng.
+++ Tháng tư nhuận âl..
++ Dời huyện lị Minh Linh (Vĩnh Linh) (thuộc tỉnh Quảng Trị) ở Đan Duệ đến Kinh Môn.
(sđd., tr. 213).
++ Vũ Trọng Bình, Đinh Văn Bân ra Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh xử trí việc xung đột lương, giáo (Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ An đốt phá nhà thờ Thiên Chúa giáo, nhà ở của giáo dân…).
(sđd., tr. 213).
+++ Tháng năm âl..
++ Dụ các học quan ổn định tư tưởng của sĩ tử (gần đây, rộ lên vấn đề xung đột lương, giáo ở trường thi).
(sđd., tr. 214).
++ Đặt thêm chức phó lãnh binh quan đạo Quảng Trị.
(sđd., tr. 219).
++ Bộ Hộ (Phạm Phú Thứ) tâu xin tăng thuế trường mậu dịch huyện Thành Hóa (từ 4.500 quan lên đến 6.000 quan / năm: tăng thêm 1/3, thành 4/3). Nguyễn Văn Tường tâu xin vẫn để như cũ về mức thuế, vì thuế quá cao, dân nghèo khô kiệt vốn, dân Thượng bất mãn; nếu tăng thuế phải dời chợ đến nơi mới, mở rộng dân cư và tăng nguồn lợi trước đã.
(sđd., tr. 221).
+++ Tháng sáu âl..
++ Quan quản đạo Quảng Trị Trần Ngọc Lý tâu bày về tình hình ruộng đất xấu và dân nghèo ở Quảng Trị; phân tích lợi, hại, tâu rõ là hại nhiều hơn ở việc việc lập kho xã thương (dân không thích cày cấy ruộng xã thương vì không thu hoạch hoàn toàn về mình); và xin bãi bỏ việc định ra loại ruộng ấy. Tuy vậy, Bộ Hộ vẫn phân tích lợi ích của kho xã thương, ruộng xã thương, nhưng cũng tâu thêm: xin tùy tình hình, chọn một trong hai cách, hoặc quân cấp (chia đều) ruộng cho dân, hoặc vẫn duy trì ruộng xã thương; không còn cách nào khác.
(sđd., tr. 225).
++ Cũng tháng sáu âl., tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá Viêm tâu về con đường mới mở ở Hương Khê, Hà Tĩnh đến Lũ Châu, huyện Minh Hóa, Quảng Bình, và về đường thủy ở tỉnh ấy, cùng biện pháp treo giải thưởng để khuyến khích nhân dân đóng góp công sức; đồng thời xin cho Vũ Trọng Bình hội bàn với quan hai tỉnh An – Tĩnh về việc trên. Vua nghe theo, lại cho thôi.
(sđd., tr. 227 – 228).
Con đường mới mở nói trên là con đường Nguyễn Văn Tường đề xuất, vua cho tiến hành từ tháng 12 âl., Bính dần (1866).
(xem lại: sđd., tr. 103 – 104).
++ Đào sông Vĩnh Định (Quảng Trị, đoạn 4 xã: Câu Hoan, Đa Nghi, Hội Yên, Đan Quế); nhưng bị mưa lụt, rồi lại thôi đào.
(sđd., tr. 228).
++ Thời điểm này: Phủ doãn Thừa Thiên là Đỗ Đệ.
(sđd., tr. 230).
+++ Tháng bảy âl..
++ Dân nội tịch Minh Hương là Trần Tú Vạn xin khai hoang phục hóa số ruộng ở Phan Xá, Tiên An, để lập phường Minh Hương, lệ vào tổng Thủy Ba, Do Linh (Quảng Trị). Vua cho phép.
(sđd., tr. 236).


D. CHƯƠNG BỐN

VIII. THỜI LÀM TÁN TƯƠNG QUÂN THỨ, TIỄU PHỈ Ở BẮC KỲ (LẠNG SƠN, BẮC NINH…).

++ Cũng vào tháng 7 âl., Mậu thìn, năm Tự Đức thứ 21 (1868), bang biện huyện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường sung làm tán tương quân thứ, cùng một lực lượng quân hùng hậu, chia làm 3 đạo, đều do Đoàn Thọ (người An Giang, Nam Kỳ) giữ quyền tiết chế, ra Bắc Kỳ tiễu phỉ:
1. - Đoàn Thọ: Bình khấu tướng quân.
2. - Nguyễn Hiên: Thảo nghịch tả tướng quân.
3. - Phan Khắc Thận: Thảo nghịch hữu tướng quân.
4. - Lê Bá Thận: Chính đạo tham tán đại thần.
5. - Hoàng Văn Tuyển: Tả đạo tham tán đại thần.
6. - Trương Phúc Lý: Hữu đạo tham tán đại thần.
7. - Nguyễn Hữu Điềm: Tán lí quân thứ
8. - Nguyễn Văn Tường: Tán tương quân thứ.
9. - Nguyễn Văn Hùng: Phó đề đốc.
10. - Trần Văn Hùng: Lãnh binh quan Lạng Sơn.
Vua sai Trần Tiễn Thành ban rượu tiễn ở của Ngọ Môn và tặng thưởng theo cấp bậc.
(sđd., tr. 238).
++ Phủ Thái Bình nước Thanh gửi công văn thông báo sẽ cùng đánh giặc Ngô Côn (vốn là tàn dư Thái Bình thiên quốc ở Trung Hoa, đã biến tướng thành phỉ, tràn sang nước ta cướp bóc, chiếm đất, xưng hùng xưng bá). Trước đó, triều đình Đại Nam cũng thông tư cho đề đốc nước Thanh Phùng Tử Tài, để cùng hội đánh, vì quan quân nước ta đã vỗ yên bọn phỉ này nhưng chúng lại trở mặt, làm phản, quấy nhiễu.
(sđd., tr. 240, tr. 241).
++ Tuần phủ hộ lí tổng đốc Thân Văn Nhiếp dâng sớ thiết trách vua Tự Đức
(sđd., tr. 244 – 246).
Đây là một bản tấu nghị thể hiện tính dân chủ rất cao ngay dưới chế độ quân chủ phong kiến.


Xin xem tiếp chương bốn

30.1.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 1)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886),
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”


(từ Đại Nam thực lục, rút gọn)
dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết

phần I

3. 2001
(tháng hai âl., Tân tị)

Lúc khoảng 14 giờ,
mùng hai Tết Nguyên đán
Bính tuất HB6 (30-01-2006),
khởi công xếp chữ lại.
TXA.

NGƯỜI BIÊN SOẠN GIỮ BẢN QUYỀN

CHỌN LỌC THEO ĐỀ TÀI, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, ít liên quan nhất, VÀ RÚT GỌN THEO DẠNG NIÊN BIỂU, SÁCH DẪN CHI TIẾT, TỪ TƯ LIỆU CHUẨN CỨ:
QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, ĐẠI NAM THỰC LỤC, CHÍNH BIÊN, tập 11 (xb. 1964), tập 24 (xb. 1971), tập 26 (xb. 1972) và các tập từ 27 đến 38 (xb. 1973 – 1978), bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1964 – 1978.
TƯ LIỆU CHUẨN CỨ NÀY, TRONG ĐÓ, CÁC TẬP THUỘC ĐỆ TỨ, ĐỆ NGŨ, ĐỆ LỤC KỈ ĐƯỢC BIÊN SOẠN Ở THỜI KÌ ĐẤT NƯỚC ĐÃ MẤT HẲN VÀO TAY THỰC DÂN PHÁP: triều Đồng Khánh (1885 – 1889), triều Thành Thái (1889 – 1907), triều Duy Tân (1907 – 1916). Do đó, cần phải tự trang bị một nhãn quan sử học dân tộc nhất, tiên tiến nhất để nghiên cứu tư liệu chuẩn cứ này.



+++ Quê hương Quảng Trị: 1924 – 1950.
+++ Quá trình hoạt động của bản thân nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886): 1850 – 1886.
+++ Những sự kiện, nhân vật khác có liên quan, theo tầm hoạt động từ địa bàn huyện , phủ – đạo, miền, đến cả nước, trong bối cảnh lịch sử của khu vực – châu Á và quốc tế vào nửa cuối thế kỉ XIX.




LỜI THƯA ĐẦU SÁCH

TRẦN XUÂN AN

[ TỪ ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN IV, V & VI (1847 – 1885 – 1888), SUY NGHĨ VỀ GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ THUỘC THẾ KỈ XX (1930 – 1945 – 1975) ]

Một con người thật sự sống, không thể chỉ tồn tại như một vật thể trong quan hệ duy nhất – quan hệ với thiên nhiên (khí hậu, cỏ cây…). Do đó, hầu như ai cũng chịu sự tác động bởi các sự kiện thuộc về thời cuộc và đều ít nhiều tác động lại các sự kiện đó, tuỳ theo cách thế của mình.
Đó là một nhận thức không có gì mới, trong việc nghiên cứu một nhân vật, giữa thực tiễn hằng ngày, ở các sáng tác văn chương…
Đối với nhân vật lịch sử, cuộc đời của họ đã tạo nên các nét lớn, các nét chủ đạo của bức tranh thời đại họ sống. Tất nhiên, dẫu là nét lớn, nét chủ đạo, cũng không thể tách hẳn ra khỏi tổng thể bức tranh.
Đó lại là một ví von có phần đơn giản hoá?
Trên một mặt phẳng của khung vải, cho dẫu với bút pháp, quan niệm nghệ thuật thuộc trường phái hội họạ nào đi nữa, cũng khó thể hiện một chân dung giữa cả một thời đại với các nhân vật và sự kiện một cách chi tiết, gồm cả chiều sâu của từng tâm trạng và khuất khúc của bao vấn đề.
Các ẩn dụ nghệ thuật sinh động, hàm súc, mang tính biểu tượng cao về lịch sử lại cần đến các thẩm thức sâu rộng về sử học, một khoa học luôn vươn tới sự minh xác (minh bạch và xác thực!).
Tôi mạn phép mượn lối ví von quen thuộc ấy để nói lên một điều: Nghệ thuật bất kì loại hình gì, ngay cả tiểu thuyết, khi đi vào đề tài lịch sử, cũng cần có sự bảo chứng của khoa học lịch sử, cả về phía sáng tác lẫn phía thưởng ngoạn.
Do đó, hơn mười năm nay (chưa kể những tháng năm trước đó), tôi bước vào sử học, ra sức làm một người nghiên cứu, biên soạn.
Trong hạn chế của người biên soạn, trước hết, ở cuốn sách “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” [*a], tôi chọn lọc và rút gọn các vấn đề, các sự kiện, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, ít liên quan nhất đến nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), nghĩa là không sót chi tiết nào, từ tư liệu chuẩn cứ (Đại Nam thực lục), cũng chỉ theo quan niệm trên.
Công việc ấy xem ra không mấy phức tạp, nhưng thực sự không phải như vậy.
Về giai đoạn lịch sử Nguyễn Văn Tường sống, hoạt động, công việc nghiên cứu thật khó khăn. Nghiên cứu về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù không đội trời chung”, “kẻ thù lớn nhất của nước Pháp” với chủ nghĩa thực dân thời bấy giờ của bọn thống trị tại Pháp và bọn trực tiếp xâm lược, người mà thực dân Pháp quyết đập tan tành uy tín, người đã bị bọn gián điệp đội lốt linh mục, giám mục, hoặc linh mục, giám mục thật, nhưng mang bản chất xâm lược cuồng bạo, thực hiện mưu toan vói tay vào sử học (BAVH.) để xuyên tạc, bôi nhọ ngay cả sau khi Nguyễn Văn Tường đã “bị nước Pháp đày cho chết” [1], công việc nghiên cứu ấy quả là không dễ dàng.
Người biên soạn đã có một lần thưa đầu sách cho cuốn “Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng” [2] trước những khó khăn gặp phải ấy:
“”Đại Nam thực lục, chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ, được Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn chính thức dưới triều Thành Thái [3], đồng thời đã được cẩn mật khắc in cũng vào thời điểm vị vua yêu nước này chưa bị thực dân Pháp lưu đày, dù với số lượng ít ỏi, cất giấu trong kho sử, đã làm sáng tỏ con người, tư tưởng và toàn bộ hoạt động chính trị của Nguyễn Văn Tường [4]. Tất nhiên, tính chất bảo hoàng của một vương triều suy vi vẫn chi phối các cây bút chép sử! Do đó, mọi sự kiện được trình bày, dẫu đã được làm rõ – Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến làm đúng mọi điều trong điều kiện lịch sử cụ thể bấy giờ – vẫn là cái rõ nhuộm màu phê phán. Cũng như các nhân vật lịch sử thuộc nhóm chủ chiến, Nguyễn Văn Tường trong “Đại Nam thực lục, chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ, nhất là các trang sử chưa kể đến – đệ lục kỉ (khắc in vào thời Duy Tân còn quá bé!) – gây cho người đọc hiệu ứng phản cảm, chí ít cũng mất cảm tình, mặc dù với nhận thức lí tính – có suy ngẫm, phân tích – , thấy ông lẫn các thành viên ấy đúng là những con người có nhân cách cao đẹp, ít ra cũng đứng đắn [5], có lòng yêu nước sâu nặng, quyết tâm chống Pháp xâm lược và chống nhà Thanh mưu toan bành trướng, quyết tâm giữ vững sự tự chủ cho vương triều Nguyễn, quyết tâm chống các vị vua đầu hàng, dâm ô, bọn quan lại cơ hội, câu kết với giặc Pháp.
Dẫu sao, hiệu ứng do chất bảo hoàng và sự rụt rè ở các cây bút chép sử triều Nguyễn, từ tập 27 đến tập 36 “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.) vẫn là thứ hiệu ứng tai hại! Đó là chưa nói đến độc tố ở tập 37 và 38!
Tuy vậy, nếu chỉ ĐNTL.CB. kỉ IV và kỉ V cũng đã đủ rõ Thành Thái đúng là một Lê Thánh Tôn, còn Nguyễn Văn Tường là Nguyễn Trãi, và vấn đề chỉ còn chờ thời đại dân chủ, cách mạng làm sáng tỏ hơn, gột tẩy đi các màu sắc bảo hoàng đến mức ngu trung ở bộ sử, do hạn chế đáng tiếc của thuở bấy giờ, với các sức ép phong kiến, thực dân, “tả đạo”, chủ “hoà”… Riêng đệ lục kỉ (tập 37 – tập 38), nếu gạt đi màu sắc phản quốc một cách cố ý (?) trong cách chép sử [*b], sẽ có những lượng thông tin hiện thực làm sáng tỏ hai kỉ [IV &V] kia, gồm cả hiện thực về nhân cách Đồng Khánh, vốn hay lạm thẳng, thiếu thuần lương (nhận định nghiêm túc và thành khẩn của Tự Đức trong di chúc!).
Nhưng trong thực tế lịch sử, có biết bao luồng thông tin gây nhiễu, đầy ác ý với chiến dịch xuyên tạc, dựng đứng chuyện bịa nhằm hạ uy tín những người lãnh đạo, dập tắt phong trào Cần vương và để răn đe! Bao người dân mù chữ, bao kẻ sĩ vô tâm bị mắc mưu tuyên truyền của kẻ thù thực dân, kể cả thực dân “đội lốt” Thiên Chúa giáo, hoặc bị hiệu ứng tai hại, bị nhiễm độc tố nói trên, rồi lại sáng tác thơ ca hò vè, viết sách, viết báo! [*c].
Đến bây giờ, hẳn ai cũng còn bị rối trong mớ bòng bong của thực dân Pháp, bọn “đội lốt”(?!) Thiên Chúa giáo từ thời ấy để lại [*c], khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến. Do đó, chúng tôi phải xác định tư liệu tương đối đáng tin cậy nhất và đầy đủ nhất để làm chuẩn: “Đại Nam thực lục, chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ (kể cả đệ lục kỉ, với thao tác xới lật cần thiết [*d]. Rối nhiễu nhưng với phương pháp luận khoa học về văn bản học, về công việc thẩm định tư liệu, nhất là tư liệu trong hơn nửa thế kỉ mất nước (1885 – 1945) và ba mươi năm chiến tranh (1945 – 1975), tôi thấy không còn tư liệu nào đáng tin cậy và đầy đủ hơn bộ sử ấy, đặc biệt với hai kỉ (đệ tứ – đệ ngũ) ấy. Dẫu có những hạn chế nhất định như đã nói, nhưng Quốc sử quán triều Nguyễn vẫn giữ được tính độc lập tương đối của một tổ chức sử gia, lại thừa điều kiện – trình độ học vấn; tư liệu; quá trình sống với các sự kiện thời đại đó… – nên hơn ai hết và hơn đâu hết, họ có thể làm tốt chức năng chứng nhân. Điều quan trọng là tính khuynh hướng trên lập trường dân tộc. Điều đó được thể hiện khá rõ, chưa kể ở mạch ngầm của các trang sử, khiến hậu thế có thể tin cậy. Tất nhiên, hậu thế phải biết cách đọc bộ sử ấy, đặc biệt là hai kỉ (IV & V) ấy, với nhãn quan sử học tiên tiến nhất, khoa học nhất của thời đại mình. Riêng đệ lục kỉ (2 tập 37 – 38), cũng hết sức quan trọng, nếu “thông cảm” cách chép sử bấy giờ với quan điểm phản quốc, đánh giá nhân vật, sự kiện theo tiêu chí ngược để lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét. Tôi đã vượt lên hạn chế của bản thân, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để cuối cùng đi đến nhận định trên, xác định được chuẩn cứ đó! Phải có chuẩn cứ, để căn cứ vào đấy mà tham khảo, đối chiếu, đãi lọc, tiếp nhận, phê phán, loại trừ các nguồn tư liệu khác, kể cả Thi tập, nhất là châu bản được chép lại ở một số sách không phải tư liệu gốc. Rối nhiễu, để lần gỡ, phối kiểm, đãi lọc xong, lại sáng lên cảm xúc có tính lương tâm và dân chủ.
Trên cơ sở những nhận thức ấy, chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà khoa học lịch sử, các nhà giáo đã có tham luận tâm huyết trong kỉ yếu của Hội nghị trên [6], tuy có người còn định kiến…
Tôi tin rằng đã đến lúc thoát khỏi tình trạng “đẽo cày giữa đường” do nhiễu loạn “tư liệu” [7]”.

Nghiên cứu về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và giai đoạn lịch sử ấy còn phải đụng chạm đến một vấn đề tế nhị, dễ gây tổn thương đến tình cảm tôn giáo của không ít người. Người biên soạn cũng mạo muội xin thưa ở lời thưa đầu sách ấy:
“Trong tinh thần đoàn kết dân tộc nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan sử học, với ý thức tôn trọng sự thật lịch sử, tôi đã khu biệt rõ đối tượng cần phê phán thường được gọi là bộ phận “tả đạo” trong Thiên Chúa giáo. Đó là các giám mục, linh mục mang bản chất thực dân, hoặc thực dân đội lốt tu sĩ Thiên Chúa giáo… Về Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, nhận định của các giáo sư như Trần văn Giàu, TS. Cao Huy Thuần, TS.Yoshiharu Tsuboi, TS. Trần Ngọc Thêm, linh mục viện sĩ Trần Tam Tỉnh [*e]… đã rất xác đáng ở các cuốn sách đã xuất bản. Giáo hoàng Jean-Paul II cũng đã bày tỏ sự thống hối chung trong buổi lễ ngày 12. 03. 2000 vừa qua… Xin giới thuyết rõ nội dung cụ thể – lịch sử của từ “tả đạo” như vậy. Ngoài ra, tôi cũng đã thể hiện cái nhìn riêng về vấn đề này trong tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” [7b]”.
Cho đến lúc biên soạn lần thứ hai cuốn tiểu sử biên niên theo dạng niên biểu về nhân vật Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), chúng tôi vẫn băn khoăn và vẫn tự mạnh dạn trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra: Tình cảm Thiên Chúa giáo chẳng lẽ là sự đồng loã với thực dân và bọn “tả đạo” để tiếp tục xuyên tạc sự thật lịch sử và khoái trá trong việc tiếp tục bôi nhọ những gương mặt anh hùng, cho dù là anh hùng bi tráng như Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến triều đình Huế? Và tình cảm Thiên Chúa giáo chẳng lẽ là sự ca ngợi những tên thực dân, cướp nước tự mệnh danh là “sứ giả Thiên Chúa”, chẳng lẽ là sự tôn vinh bọn bán nước, cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, được dán lên nhãn hiệu “thánh tử vì đạo”, “người trí thức bản xứ làm sáng danh Thiên Chúa” của “mẫu quốc Pháp”, “nước đỡ đầu: Mỹ”? [*g].
Đó là những khó khăn, vấn nạn. Người nghiên cứu, biên soạn đã cố gắng, thậm chí, phải nói là đã nỗ lực, để yên tâm vượt qua.
Và cũng có lẽ chẳng cần phải trình bày nhiều thêm, ngoại trừ đôi điều cụ thể.
Trước khi khảo cứu và đặt bút viết những cuốn sách với đề tài này, tôi đã sưu tập và nghiên cứu nhiều tư liệu, sách báo viết về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), như đã thưa trước. Từ đó, tôi cũng tuyển chọn để hình thành một cuốn sách thuộc dạng sưu tập – ghi chú, tức là phần II của cuốn sách “Tiểu sử biên niên…”. Đó là “Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và các sự kiện thời kì đầu chống Pháp…” của Quốc sử quán triều Nguyễn (bản dịch Viện Sử học Việt Nam tại Hà Nội) [*h].
Dẫu vậy, cuốn sách ấy vẫn thuộc vào công đoạn đầu trong quá trình nghiên cứu về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), trước khi làm công việc chú thích cho Thi tập của ông, gồm cả việc làm sáng tỏ một vài chủ điểm sử học trọng yếu, liên quan.
Đây cũng chính là đề cương cho cuốn truyện – sử kí – tư liệu lịch sử [*i] tôi đã viết và đã xuất bản (12-2004).
Người biên soạn, nghiên cứu nghĩ rằng, ngay tự thân cuốn tiểu sử biên niên dạng niên biểu (chưa kể những cuốn sách khác tôi đã viết về đề tài này) sẽ tiện lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến triều đình Huế cũng như giai đoạn lịch sử 1858 – 1885 và phong trào Cần vương sau đó. Đó là giai đoạn đầu dân tộc ta bước vào cuộc chiến đấu chống lực lượng xâm lược Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp và Phương Tây nói chung. Đó là cuộc chiến đấu trước sự tấn công bằng nhiều loại vũ khí và trên các mặt trận, từ tôn giáo, văn hoá, kinh tế, ngoại giao, chính trị đến quân sự. Đó là một hình thái chiến tranh khá lạ lùng so với các hình thái chiến tranh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Người nghiên cứu, khảo luận cũng nghĩ rằng cuốn sách sẽ có chút hữu ích nào đó để hiểu hết chiều sâu, tầm cao của cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ và bá quyền Trung Quốc giai đoạn sau của dân tộc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ và Lê Duẩn lãnh đạo, với thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp.
Hơn nữa, từ đó, thấy được lô-gích (logic/logique) lịch sử có tính tất yếu trong công cuộc chống chế độ Diệm – Thiệu (đều là “tả đạo” trong Thiên Chúa giáo, ít ra là kể từ nửa sau thế kỉ XIX) của lực lượng Phật giáo và của đại bộ phận nhân dân mặc nhiên hoặc có ý thức thuộc về chủ nghĩa dân tộc truyền thống – hiện đại, tại Miền Nam Việt Nam, suốt 21 năm (1954 – 1975). Trong đó, vai trò lịch sử của Phật giáo Miền Nam Việt Nam là hết sức nổi bật. Phật giáo đã kế thừa được truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc từ cổ đại đến giai đoạn Cần vương (1883 – 1896…) và phát huy cho đến tận giai đoạn 21 năm chia cắt Đất nước ấy. Cũng không thể không thấy rằng, một bộ phận khá lớn quân nhân từ trung cấp (cấp tá) trở xuống thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa và tầng lớp công chức ở cấp tỉnh thuộc chế độ Sài Gòn là thuộc về lực lượng dân tộc chủ nghĩa, ngấm ngầm hay công khai chống Diệm – Thiệu (1954 – 1975). Phật giáo và phân số nhân dân, quân nhân, công chức ấy tại Miền Nam Việt Nam bị kẹt giữa hai gọng kìm lịch sử, vì họ chống “tả đạo” (một lực lượng vốn gắn liền với đội quân xâm lược Âu – Mỹ), như cha ông họ đã chống từ nửa sau thế kỉ XIX, nhưng họ cũng không thể đứng vào hàng ngũ những người cộng sản, duy vật, vô thần, chuyên chính vô sản vốn thuộc một trong hai khối trong giai đoạn “chiến tranh lạnh” (1945 – 1991, đứng đầu hai khối là Liên Xô – Mỹ).
Và chắc chắn những cuốn sách này sẽ không phải là vô ích trong giai đoạn Đổi mới hiện nay, mặc dù sử học vốn không thể “thực dụng” theo kiểu “sử học vì mục đích tuyên huấn…”.
Dẫu những trang sử cũ mãi còn đó, vẫn cần được in lại để đọc lại, viết lại với nhãn quan khoa học sáng suốt, với cách nhận thức, đánh giá theo quan điểm lịch sử – cụ thể [8]. Tuy nhiên, quá khứ vẫn thuộc về quá khứ, mặc dù quá khứ luôn giúp chúng ta định hướng cho hiện tại, cho tương lai. Mọi người, không trừ một ai, đều có quyền hi vọng ở những chương sử mới về những chặng đường mới của dân tộc trong bộ sử của nhân loại (quốc sử và sử thế giới), tuỳ theo cách thế của mình [*k]. Công lí, đạo lí Việt Nam đã sáng tỏ khắp cả hành tinh, từ cuộc kháng chiến 131 năm (1858 – 1989): đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” (một thứ tự do với nội dung qua mỗi thời kì mỗi phát triển, để tiến đến bao hàm tất cả mọi quyền dân chủ, trong nỗ lực chung hiện nay); đó là ý chí chống xâm lược, chống nô dịch bất kì màu sắc nào; đó là quyết tâm xây dựng Đất nước trong ý hướng giữ gìn, cách tân, phát huy bản sắc dân tộc [9]; đó là quốc thể và phẩm giá Việt Nam trước lương tri loài người… Ý thức sử tri (sự nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử; lịch sử ghi nhận mọi tấm gương đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…) là một nét bản sắc Việt Nam. Ý thức sử tri đang và sẽ cùng mỗi người, không trừ một ai, bước trong hiện tại, bước tới tương lai, với sự định hướng của công lí, đạo lí rất Việt Nam, rất nhân loại ấy.
Để thấu hiểu những điều trên, người nghiên cứu, biên soạn đã nghiền ngẫm trên từng trang sử cũ…
Từ đó, những cuốn sách về đề tài đã hình thành.
Thành thật mong mỏi được kiểm chứng, đối chiếu với tư liệu chuẩn cứ và phát hiện giúp những sai sót có thể do người nghiên cứu, biên soạn gặp phải, ngoài ý muốn. Tuy nhiên, chắc chắn không thể có sai sót nào đáng kể, hoặc mạnh dạn nói là không thể sai sót. Với lòng trung thực trong công việc nghiên cứu khoa học, xin phép được nhấn mạnh là tôi (người biên soạn, nghiên cứu) hoàn toàn bám sát Đại Nam thực lục, các kỉ có liên quan đến đề tài, đồng thời hết sức giữ đúng nguyên tắc chọn lọc (chọn lọc cũng có nguyên tắc của nó).
Xin được chỉ dạy, mách bảo, góp ý, phê bình. Với lòng biết ơn, mong được nhận thư, sách, báo và tạp chí…

TP.HCM., ngày 02. 06. 2001 (11.04. Tân tị)
và tháng 5. 2005

TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
P.3, Tân Bình, TP.HCM.
ĐT.: (08) 8453955
[ & 0908 803 908 ]

CƯỚC CHÚ THUỘC BÀI VIẾT:

[*a] Phần chữ vi tính trong ổ cứng computeur của cuốn sách dẫn chi tiết này đã bị người xếp chữ (Nguyễn Nhị Lan Hà [đường Quang Trung, Gò Vấp, TP. HCM.], con gái anh Nguyên Minh, thành viên nhóm Ý Thức, Phan Rang) làm thất lạc. Nay chỉ còn bản thảo viết tay và bản in vi tính.

(1) Các cụm từ nguyên văn hoặc theo ý tưởng nguyên tác, in nghiêng, theo thứ tự, là của H. Le Marchant de Trigon (NNBCĐH. [BAVH., 1917], tập IV, sđd. , tr. 273), Puginier (dẫn theo Trần Viết Ngạc và GS. Đoàn Quang Hưng, KY. HNKHLS. CĐSP. TP.HCM., sđd., tr. 12 và KY. HNKHLS. ĐHSP. TP.HCM., sđd., tr. 101), De Champeaux (dẫn theo GS.TS. Yoshiharu Tsuboi, NĐN. ĐDVP. & TH., sđd., tr. 270), H. de Pirey ((NNBCĐH. [BAVH., 1914], tập I, sđd., tr. 234). Xin xem bảng tên sách tham khảo viết tắt.

(2) “Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng”, thi tập của Nguyễn Văn Tường, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, GS. Đoàn Quang Hưng, TS. Võ Xuân Đàn, Nguyễn Tôn Nhan, Trần Xuân An, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm, giới thiệu, khảo luận sử học, dịch từ nguyên tác chữ Hán, nhuận sắc, chú thích, hiệu đính (chưa xuất bản).

(3) Thành Thái ở ngôi từ 1. 1889 đến 7. 1907, là con trai thứ bảy của Dục Đức.

(4) Chi tiết rất đẹp của nhân cách Thành Thái, trong hạn chế lịch sử nhất định, là điểm này. Tuy vậy, “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim (xb. 1921), mặc dù cũng đã làm sáng tỏ lập trường chính trị của Nguyễn Văn Tường là kiên định chống Pháp, ngay lúc vâng mệnh ở lại Huế, lại có xuyên tạc đạo đức của ông (và cả Tôn Thất Thuyết)!

(5) Trong nhóm chủ chiến triều đình Huế, chỉ có 3 nhân vật có cá tính thường bị vua Tự Đức nhắc nhở, khuyên nhủ và đôi khi phê phán là Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết và Trương Văn Đễ. Tuy vậy, Tự Đức vẫn không phải không có nhiều lần ngợi khen họ. Tôi không thể cho rằng các sử quan triều Nguyễn dám xuyên tạc lời dụ của Tự Đức, mặc dù sử quan có quyền đưa vào Thực lục hay gác lại những lời dụ dạng ấy, trong giới hạn cho phép của các nguyên tắc viết sử (01. 04. 2005, chua thêm: nguyên tắc viết sử đại để phải bảo đảm tính khái quát toàn diện, nghĩa là chọn những chi tiết tiêu biểu; tiêu biểu nhưng phải tránh sự phiến diện). Vì vậy, tôi tin cá tính của ba vị nói trên là có thật, và cũng có thật về Tự Đức vốn quen với cách thức “thương cho roi cho vọt” theo kiểu một hoàng đế ngày xưa, ở những lời dụ bình thường (xin nhấn mạnh: ở những lời dụ bình thường). Tôi cũng tin lỗi lầm đến mức tự tiện xử án chém lính chăn voi, tử hình tên suất đội phản bội, không tâu báo, của Tôn Thất Thuyết và Trương Văn Đễ là có thật; cũng có thật các hành vi phá tán sự nghiệp và thanh danh trong bản án về Ông Ích Khiêm. Tuy nhiên, cần so sánh lỗi lầm của họ với bao lỗi lầm của nhiều quan lại, hoàng thân khác trong Thực lục, cần nhìn về họ một cách toàn diện. Lòng yêu nước, chí căm thù giặc xâm lược sâu sắc ở họ vẫn là nét chủ đạo. Ánh sáng ấy có thể làm sáng cả những nét tối? Và chắc chắn, họ không phải là hình ảnh xấu xa, hèn nhát, hiếu sát, cuồng bạo như kẻ thù đã bôi nhọ họ. Riêng về đoạn cuối đời của Trương Văn Đễ, tôi đã có ý kiến trong cuốn sách này (01. 04. 2005, chua thêm: Trương Văn Đễ và Đinh Tử Lượng làm nhiệm vụ cản hậu, đánh lạc hướng truy kích của thực dân Pháp. Chính vì bản sớ kêu “oan” cho Trương Văn Đễ của Trương Quang Đản vào năm Thành Thái thứ hai, (do áp lực thời giặc Pháp thống trị), khiến hậu thế hiểu lầm về Trương Văn Đễ [xem: ĐNLT., sđd., tập 3, NXB. Thuận Hoá, 1993, tr. 425 – 426: phụ chép dưới tiểu truyện Trương Đình Quế]).

(*b) Trong kỉ đệ lục (1885 – 1888, tập 37 – tập 38) của “Đại Nam thực lục, chính biên”, viết về nguỵ triều Đồng Khánh, những nhân vật lịch sử trong nhóm chủ chiến triều đình Huế (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn) và các nghĩa sĩ lãnh đạo Cần vương ở các địa phương đều bị lên án gay gắt bằng các từ ngữ như “làm giặc”, “làm loạn”, “quyền thần”, “phản nghịch”… Trong khi đó, những tên giặc Pháp xâm lược đầu sỏ như De Courcy, De Champeaux, Hector, những tên tay sai bán nước như Nguyễn Hữu Độ, lại được đề cao, phong thưởng! Như thế là chép sử theo tiêu chí phản quốc của nguỵ triều Đồng Khánh! Nói cách khác, “Đại Nam thực lục, chính biên, kỉ đệ lục (nguỵ triều Đồng Khánh, 1885 – 1888)”, viết theo tiêu chí trái ngược với công lí nhân loại, trái ngược với đạo lí, tinh thần yêu nước truyền thống của dân tộc, để lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét.
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).

(*c) Như “Bulletin des amis du vieux Huế” (BAVH.) với các bài của các linh mục H. Pirey, Delvaux… Còn “Việt Nam vong quốc sử” của Phan Bội Châu thực sự là viết theo thủ thuật “vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn”, nhằm phục vụ cho ý đồ chính trị tôn phù Cường Để – hậu duệ hoàng tử Cảnh, một hoàng tử đã theo Thiên Chúa giáo –; chịu tác động của Duy tân Giáo đồ hội Nghệ – Tĩnh, cụ thể bởi chuẩn linh mục Mai Lão Bạng; chịu sự chi phối của Lương Khải Siêu vốn thuộc phái bảo hoàng. Cụ Phan Bội Châu cũng ở trong quỹ đạo mắc mưu tuyên truyền xuyên tạc và bôi nhọ này. Nguyên văn VNVQS., viết về Nguyễn Văn Tường: “Người Pháp ghét hắn [NVT.] là người phản trắc, sợ có hại về sau, bèn đưa hắn ra khơi, quẳng xác xuống biển, rồi đem cái quan tài không bằng sắt về, bắt con cháu Tường bỏ ra hơn 10 vạn [lạng] vàng để chuộc xác” (bản dịch, NXB. KHXH., 1982, tr. 77 – 78). Tác giả VNVQS. (Phan Bội Châu & …) đã xuyên tạc tính chất lòng thù hận của Pháp đối với Nguyễn Văn Tường! Không những xuyên tạc, bôi nhọ mà còn sai lầm khi nhầm cái chết của Phạm Thận Duật (người không có tên trong bản án chung thẩm tháng 8 Ất dậu 1885) ở giữa biển với cái chết ở đảo Tahiti của Nguyễn Văn Tường (chú thích của dịch giả). Với cách phân loại, xử lí tư liệu, loại trừ và thu nhận lượng thông tin khách quan [tuy không xác thực; sự thật là NVT. mất tại Tahiti, 1886] (có nghĩa là, gạt bỏ thái độ biểu cảm ác ý), tôi thấy: Dẫu sao, tác giả VNVQS. (Phan Bội Châu & …) cũng vô hình trung thừa nhận sự thật là thực dân Pháp rất thù hận Nguyễn Văn Tường và con cháu của ông. Xin xem thêm về vấn đề này: “Nguyễn Văn Tường,“những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, cùng người viết: Trần Xuân An, 2002, đã đăng trên website Giao Điểm, 5-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm

(*d) Trong chừng mức nào đó, cũng tương tự như khi tham khảo An Nam chí lược của Lê Tắc, một tên người Việt gốc Hoa phản bội nước Đại Việt, theo hàng giặc Nguyên – Mông (viết về giai đoạn lịch sử từ cổ đại cho đến đời Trần nước ta ). Lê Tắc gọi những anh hùng khởi nghĩa như Hai Bà Trưng là giặc (giặc của bọn Tàu xâm lược!). Do đó, Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên phải làm động tác xới lật cần thiết khi cùng các sử gia khác tham khảo để biên soạn bộ Đại Việt sử kí và Đại Việt sử kí toàn thư. Đối với anh hùng thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn, vốn bị một số thư tịch cổ gọi là “vua nguỵ”, “nguỵ Tây Sơn”, các sử gia sau này cũng phải xới lật như vậy. Tất nhiên sự so sánh nào cũng khập khiễng. Ở đây, riêng về ĐNTL. CB. đệ lục kỉ, các sử gia Quốc sử quán triều Nguyễn chép đúng quan điểm, thái độ và hành trạng phản quốc của hai tên Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ ấy. Hai kẻ phản quốc này mạt sát Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến một cách thậm tệ (gọi họ là giặc, làm loạn, quyền thần…). Là người hậu sinh, tôi chỉ lên án Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ, và thừa hiểu ý thức lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét của Quốc sử quán qua bản phàm lệ đệ lục kỉ: chép sử theo tiêu chí ngược.

(6) Hội nghị Khoa học lịch sử về “Nhóm chủ chiến trong triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, 20. 06. 1996, ĐHSP. TP.HCM. chủ trì.

(7) Trích nguyên văn “Lời thưa đầu sách” (Trần Xuân An, KVPCĐT. NVT., T., VNVCN., TH. & TT., sđd., tr. 9 – 12 & tr. 14). Tôi dùng thành ngữ “đẽo cày giữa đường” không có ý thực dụng chủ nghĩa trong việc nghiên cứu, nhận định sử học, mà với nghĩa là thiếu tính độc lập trong công việc khoa học đòi hỏi phải nghiêm túc, bản lĩnh ấy.

(*e) Cùng các học giả, tiến sĩ như Cao Huy Thuần (tác giả cuốn “Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, 1847 – 1914”, NXB. Tôn Giáo tái bản, 2003)…
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).

(7b) Trích nguyên văn “Lời thưa đầu sách” (Trần Xuân An, KVPCĐT. NVT., T., VNVCN., TH. & TT., sđd., tr.9 – 12 & tr. 14). Xin vui lòng xem tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” (Nỗi đau hậu chiến), bản 2003.

(*g) Dẫu cho Nhà nước CHXHCN. Việt Nam đã kí hiệp định thương mại với chính phủ Mỹ và đang cố gắng bình thường hóa quan hệ ngoại giao, cũng phải nói và viết đúng sự thật lịch sử… Thật là muộn màng nhưng cũng rất cần thiết khi ông Seymour Topping, cựu tổng biên tập báo New York Times, người mà trước đó từng thiết lập văn phòng Hãng Thông tấn AP tại Việt Nam những năm 50 (XX), phóng viên trưởng New York Times, cũng tại Việt Nam, trong thập niên 60 (XX), trả lời phỏng vấn của phóng viên Hà Nguyên, nhân chuyến ông sang Việt Nam và đến thăm toà soạn báo Thanh Niên, đàm luận với tổng biên tập Nguyễn Công Khế vào ngày 24. 03. 2005. Câu trả lời của Seymour Topping, trước câu hỏi của Hà Nguyên, như sau: “Thất bại trong hoạch định chiến lược của Mỹ là sự thiếu hiểu biết về văn hoá, lịch sử Việt Nam, về quyết tâm của người Việt muốn được tự do, khỏi ách đô hộ ngoại xâm. Nếu như năm 1945 [đúng ra là sau 1945 … – TXA. chua thêm], Mỹ phân tích đúng đắn thì Mỹ lẽ ra đã không bao giờ ủng hộ việc người Pháp quay trở lại kiểm soát Đông Dương” (báo Thanh Niên, số 84 [3380], thứ sáu, 25. 03. 2005). Tôi nghĩ: Đáng lẽ ra, Seymour Topping phải nói thêm là Mỹ đã sai lầm nghiêm trọng khi ủng hộ Thiên Chúa giáo qua hai “nền đệ nhất và đệ nhị cộng hoà” Diệm - Thiệu!
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).

(*h) So với bản “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường” đã in vi tính, tôi có điều chỉnh lại ở đoạn trình bày các công đoạn biên soạn này của bài viết “Lời thưa đầu sách”. Trong thực tế, đúng là tôi có sưu tập thêm một cuốn có tên gọi là “Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” và đã viết ở Lời thưa đầu sách nói trên như sau: “gồm những bài viết, những trích đoạn của các giáo sĩ thực dân, các sử gia, nhà văn viết lách trong quỹ đạo thực dân (tất nhiên với quan điểm, lập trường thực dân, bồi bút!) và của các nhà nghiên cứu sử học khá đa dạng trong một vài thập niên gần đây…” (bản in vi tính, sđd., tr. 18). Nhưng tôi thấy không cần thiết phải sưu tập để làm thành sách loại này, mà chỉ dùng để tham khảo riêng. Do đó, cuốn “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường” được đổi tên là: “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp””, (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.

(*i) Đến năm 2002, tôi chỉ viết thành sách với thể loại tổng hợp: truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”; xuất bản vào tháng 12. 2004.
(Chú thích ngày 01. 04. 2005)

(8) Quan điểm nhận thức, thẩm định có tính đến các yếu tố cụ thể của một giai đoạn lịch sử nhất định, từng nhân vật lịch sử nhất định… Yếu tố cụ thể bao gồm bối cảnh quốc tế cụ thể, tương quan lực lượng cụ thể, đất nước cụ thể, truyền thống văn hoá cụ thể, thể chế chính trị – xã hội cụ thể, tình thế, tình huống, điều kiện và biện pháp cụ thể, nhân vật với cá tính, tư tưởng cụ thể… Thẩm định (xem xét, đánh giá) lịch sử (sự kiện và nhân vật…) không thể dùng tiêu chí, chuẩn mực, trình độ khoa học kĩ thuật, điều kiện của không gian – thời gian này (Việt Nam – thế kỉ XX) áp đặt vào không gian – thời gian kia (Đại Nam – thế kỉ XIX). Tuy vậy, trên cơ sở quan điểm lịch sử – cụ thể đó, cần có cái nhìn toàn thể (toàn cảnh thế giới), cái nhìn bao quát đồng đại (cùng thời đại) và lịch đại (qua từng thời kì lịch sử, từ cổ sơ đến hiện tại).

(*k) … với tư thế một nhân vật lịch sử có tên tuổi hay như một thành viên vô danh của một lực lượng, một phân số quần chúng, một cộng đồng dân cư địa phương. Ngoài quốc sử ra, còn có những cuốn sử địa phương (sử làng, sử xã, sử huyện, sử tỉnh), sử gia tộc…
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).

(9) Xin hãy để những thế hệ Việt Nam mai sau tự hào về diện mạo văn hoá – lịch sử Việt Nam (gồm trên 54 nhân tộc, sống chan hoà trên một Đất nước toàn vẹn , thống nhất) với những gương mặt Việt Nam trong sự toả sáng các giá trị phục hưng truyền thống thuần tuý Việt Nam, các giá trí phát minh, sáng tạo đặc sắc, lành mạnh, hiện đại – dân tộc, về vật chất và tinh thần, đóng góp vào văn hoá – lịch sử nhân loại, chứ không phải là các giá trị ngoại nhập thiếu sự tiếp biến (“khúc xạ”)…
Trên đây là nhận thức riêng và kiến nghị của người biên soạn.

Ghi chú bổ sung ngày 01. 04. 2005:
Xin xem thêm tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” (b. 2003), đặc biệt là hai bài tiểu luận trong tiểu thuyết ấy: “Đọc lại Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Marx – Engels”“Ý nghĩ nhỏ về một truyền thống lớn và một nhân vật lịch sử lớn” (Trần Xuân An [với cái tên nhân vật tiểu thuyết là Trần Nguyễn Phan]).
TXA.

SÁCH THAM KHẢO Ở BÀI NÀY:

1. Cao Huy Thuần, Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1847 – 1914) (CGSTS. & CSTĐ. CP. TVN…), NXB. Tôn Giáo tái bản, 2003.

2. Nhiều tác giả, Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.]), tập I – tập VII (1914 – 1919), Đặng Như Tùng, Bửu Ý, Hà Xuân Liêm, Phan Xuân Sanh, Phan Xưng, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Vi dịch và hiệu đính, NXB. Thuận Hoá, 1997 – 1998.

3. Nhiều tác giả, Kỉ yếu Hội nghị khoa học (KYHNKH.) “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP.) TP. HCM., 20. 06. 1996.

4. Nhiều tác giả, Kỉ yếu Hội nghị khoa học (KYHNKH.) “Nhóm chủ chiến triều đình Huế cuối thế kỉ XIX”, Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP.) TP. HCM., 11. 1991.

5. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Trần Xuân An (biên soạn) Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCN. TH. & TT.), thi tập của Nguyễn Văn Tường, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, GS. Đoàn Quang Hưng, TS. Võ Xuân Đàn, Nguyễn Tôn Nhan, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm, giới thiệu, khảo luận sử học, dịch từ nguyên tác chữ Hán, nhuận sắc, chú thích, hiệu đính (chưa xuất bản).

6. Phan Bội Châu, Những tác phẩm của Phan Bội Châu [NTPCPBC.] (tập I, gồm Việt Nam vong quốc sử [VNVQS.] & Việt Nam quốc sử khảo [VNQSK.]), Văn Tạo chủ biên, nhóm người dịch, giới thiệu và hiệu đính: Chương Thâu, Phan Trọng Báu, Quốc Anh, Mai Ngọc Mai, NXB. KHXH., 1982.

7. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam (BSVHVN.), riêng bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh cao của văn hoá Việt Nam”, NXB. Văn hoá – Thông tin, 1998.

8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), tập 3, NXB. Thuận Hoá, 1993.

9. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL. CB.), tập 11 (xb. 1964), tập 24 (xb. 1971), tập 26 (xb. 1972) và các tập từ 27 đến 38 (xb. 1973 – 1978), bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1964 – 1978.

10. Quốc sử quán triều Nguyễn, Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (NTĐNTL. V. KVPCĐT. NVT….) (Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), TXA. chọn lọc, phần II, 2001.

11. Tsuboi (Yoshiharu), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVPVTH.), Nguyễn Đình Đầu và nhóm cộng tác viên dịch, Ban KHXH. Thành uỷ TP. HCM. xuất bản, 1993.

12. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), NXB. Tân Việt, (bản in lần thứ 7), 1964.

13. Trần Xuân An, Mùa hè bên sông (MHBS.) (Nỗi đau hậu chiến), bản 2003.

14. Trần Xuân An, Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) (PCĐT. NVT), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ bốn tập, NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.

15. Trần Xuân An, Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (TSBNKVPCĐT. NVT…), (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.

16. Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được” (NVT. NNTNTX…), khảo luận và phê bình sử học, 2002.

17. Nhiều tư liệu khác đã được công bố bằng xuất bản như Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của K. Marx và F. Engels…


Bài viết này đã được đăng tải trên website Giao Điểm ngày 27-5-2005 (VN.).

ĐÍNH CHÍNH

1. Giáo hoàng Jean-Paul II cũng đã bày tỏ sự thống hối chung trong buổi lễ ngày 12. 03. 2005 vừa qua… Xin chữa lại một chữ số trong dãy chữ số chỉ năm: 12. 03. 2000 chứ không phải 12. 03. 2005.

2. Phật giáo đã kế thừa được truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc từ cổ đại đến giai đoạn Cần vương (1883 – 1896…) và cho đến tận giai đoạn 21 năm chia cắt Đất nước ấy. Xin thêm hai chữ “phát huy”: Phật giáo đã kế thừa được truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc từ cổ đại đến giai đoạn Cần vương (1883 – 1896…) và phát huy cho đến tận giai đoạn 21 năm chia cắt Đất nước ấy.

3. Ý thức sử tri (sự nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử ghi nhận mọi tấm gương đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…) là một nét bản sắc Việt Nam. Xin thêm dấu chấm phẩy ( ; ) và hai chữ “lịch sử”: Ý thức sử tri (sự nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử; lịch sử ghi nhận mọi tấm gương đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…) là một nét bản sắc Việt Nam.
Xin cảm ơn.

TXA.


BẢN ĐỒ NƯỚC ĐẠI NAM
VỚI CÁC ĐỊA DANH THỜI TỰ ĐỨC


A. CHƯƠNG MỘT

I. THỜI HỌC TRÒ: VẤN ĐỀ TÊN HỌ VÀ THI CỬ

1) Minh Mạng năm thứ 5, Giáp thân (1824):
2 tuổi (*)
---- (*) Theo cách tính tuổi ta (cộng thêm 1 tuổi trong bụng mẹ). ----
+++ Tháng tám âm lịch (âl.).
++ Nguyễn Văn Tường chào đời vào ngày 22.8 năm Giáp thân (14.10.1824) tại Quảng Trị.

2) Minh Mạng năm thứ 13, Nhâm thìn (1832): 9 tuổi.
+++ Tháng mười âl. (**)
---- (**) Vẫn giữ nguyên ngày, tháng, năm âl. để tiện tra cứu vào nguyên bản (hoặc bản dịch) ĐNTL.CB. (những kỉ có liên quan), mặc dù đã ghi thêm số tập, số trang bản dịch lần xuất bản đầu tiên. ----
++ Minh Mạng một lần nữa ra sắc dụ chuyển họ Nguyễn Phúc thành Tôn Thất.
(ĐNTL.CB., tập 11, sđd., tr. 222)
Chỉ trên bài vị, dùng để thờ người đã mất, mới ghi đầy đủ là Tôn Thất Nguyễn Phúc (họ Nguyễn Phúc phải có hai chữ “Tôn Thất” đi liền phía trước). Ngoài ra, ở các trường hợp khác, không còn dùng hai chữ “Nguyễn Phúc”, như Tôn Thất Dịch, Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Lương Thành, kể cả trong trường hợp thuộc đế hệ, chẳng hạn: Miên Trinh, Hồng Nhậm, Ưng Phương…
Từ đó, nếu ai còn mang họ Nguyễn Phúc (được ban quốc tính) hoặc họ Nguyễn có lót chữ “Phúc”, tất nhiên ai cũng biết người ấy không thuộc hoàng tộc Nguyễn Phúc. Tuy nhiên, mặc dù không mạo nhận hoàng tộc (vì mạo nhận, phải đổi là Tôn Thất hoặc đặt tên theo đế hệ thi), cũng bị phạm luật cấm!


3) Thiệu Trị năm thứ 2, Nhâm dần (1842): 19 tuổi.
+++ Tháng bảy âl..
++ Vào kì thi hương ở trường thi Thừa Thiên, trong danh sách tú tài do quan đề điệu và Bộ Lễ lập, dâng lên vua, có tên một sĩ tử ở Quảng Trị là Nguyễn Phúc Tường. Thiệu Trị cho rằng đó là sự mạo phạm quốc tính, nên bảo gạch bỏ tên ấy, và quở mắng từ học quan huyện, phủ, quan tỉnh Quảng Trị đến quan Quốc tử giám, quan trường thi, quan Bộ Lễ (khi thu nhận danh sách dự thi cũng không phát hiện). Viện Đô sát được lệnh nghị xử. Đình thần lại được lệnh xét án. Tất cả các quan có liên quan kể trên, ngay cả Viện Đô sát, cũng bị giáng, phạt, có phân biệt nặng, nhẹ, do sơ sót. Nguyễn Văn Tường bị tội đồ (đày đi khổ sai) một năm, vì “ngu dại lầm phạm” (nguyên văn lời phán của Thiệu Trị!).
(ĐNTL.CB., tập 24, sđd., tr. 164 – 165).
Theo tương truyền, Nguyễn Văn Tường này chính là Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), nhân vật tài trí nhất của các triều từ Tự Đức đến Hàm Nghi.

4) Thiệu Trị năm thứ 7, Đinh mùi (1847): 24 tuổi.
+++ Tháng ba âl..
++ Pháp kiếm cớ, bắn chìm thuyền binh nước ta tại Đà Nẵng.
(ĐNTL.CB., tập 26, sđd., tr. 253 – 258).
(Xem thêm: sđd., tr. 243 – 245, tr. 283 – 284).
+++ Tháng chín âl..
++ Thiệu Trị mất. Di chiếu truyền ngôi được ban ra.
(sđd., tr. 389 – 393).
+++ Tháng mười âl..
++ Hồng Nhậm lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu: Tự Đức.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 35).

5) Tự Đức năm thứ 1, Mậu thân (1848): 25 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Lê Văn Vĩ: án sát Quảng Trị.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 69).
+++ Tháng hai âl..
++ Quân thổ phỉ Lào đánh cướp 2 châu Ba Lan, Mường Bổng (Cam Lộ, Quảng Trị). Nguyễn Nhuận (quản vệ) và Lê Văn Dự (tri phủ Cam Lộ) đánh đuổi, vỗ yên.
(sđd., tr. 70 – 71).
Xin lưu ý về vùng đất Cam Lộ:
Những cuộc xâm lược, cướp phá và nổi dậy ở vùng Cam Lộ (Quảng Trị) trước đó:
1. Quân Xiêm xâm phạm.
(ĐNTL.CB., tập 9, sđd., tr. 138).
2. A Điền Cáo quấy nhiễu ở châu Mường Vang.
(tập 9, sđd., tr. 331).
3. Quân Xiêm xâm phạm.
(tập 13, sđd., tr. 381 – 382).
4. Quân Xiêm tấn công Mường Bổng.
(tập 14, sđd., tr. 61, 125).
5. Quân Xiêm xâm lấn châu Ba Lan.
(tập 14, sđd., tr. 125).
6. Đánh thắng quân Xiêm ở châu Tầm Bồn.
(tập 14, sđd., tr. 229 – 230).
7. Người “Man” cướp phá châu Ba Lan.
(tập 18, sđd., tr. 80).
8. Mường Vang, Tà Bang bị cướp phá.
(tập 24, sđd., tr. 46).
9. Quân Lào cướp phá huyện Hướng Hóa (Cam Lộ).
(tập 25, sđd., tr. 208).
Những cuộc ngoại xâm và nội loạn ấy nổ ra dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị.
Làng An Xá Trung (An Cư), huyện Đăng Xương (Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị là nơi sinh ra và lớn lên của Nguyễn Văn Tường. Hẳn những những biến động ấy ở Cam Lộ (Hướng Hóa) không thể không tác động đến Nguyễn Văn Tường thời tấm bé, niên thiếu và những năm đầu tuổi thanh niên.

(ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 171 – 172).
+++ Tháng tư âl..
++ Trừ tàu thuyền Pháp, còn tàu thuyền của các nước khác, vua vẫn cho cập bờ, nhưng chỉ để lấy củi, nước (nhiên liệu của tàu thủy chạy máy hơi nước), vì tàu Pháp đã từng gây sự.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 88).
+++ Tháng năm âl..
++ Tên Phù Xu Phì ở châu Mường Bổng (Quảng Trị) làm giặc (tay sai) cho Lào.
(sđd., tr. 91).
++ Thổ ti Cam Lộ (Quảng Trị) về kinh đô Huế làm lễ dâng hương.
(sđd., tr. 92).
+++ Tháng sáu âl..
++ Điều cấm đạo Gia Tô (Christo, Thiên Chúa giáo).
(sđd., tr. 111 – 112).
(xem thêm: sđd., tr. 423).
+++ Tháng tám âl..
++ Tuần phủ Trị - Bình: Lê Trường Danh.
(sđd., tr. 117).
++ Đình miễn lệ vào chầu cho thổ ti Cam Lộ (Quảng Trị).
(sđd., tr. 119).

6) Tự Đức năm thứ 2, Kỉ dậu (1849): 26 tuổi.
+++ Tháng năm âl..
++ Tuần phủ Trị – Bình: Trần Quang Chung.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 179).
+++ Tháng bảy âl..
++ Lễ phong vương cho Tự Đức tại Huế.
(sđd., tr. 186 – 187).
Do lễ phong vương này nên kì thi hương chính khoa năm nay được triển hoãn, sĩ tử sẽ thi vào năm tới (1850). Lí do khác: từ tháng ba âl., bệnh dịch khí gây tổn hại lớn.
(sđd., tr. 185).


III. THỜI ĐỖ ĐẠT VÀ ĐI DẠY HỌC (HUẤN ĐẠO) Ở MỘ ĐỨC (QUẢNG NGÃI).

7) Tự Đức năm thứ 3, Canh tuất (1850):
27 tuổi.
+++ Tháng ba âl..
++ Nguyễn Văn Tường đỗ cử nhân tại trương thi Thừa Thiên. Đây là một kì thi không có sự cố chữ “Phúc”.
Nếu theo “Quốc triều hương khoa lục” (“trùng tên với quốc tính không chịu đổi”), phải hiểu rằng đó chỉ là sự truy án cũ.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 223; QTHKL., Cao Xuân Dục biên soạn, bản dịch: Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm; hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 297).


8) Tự Đức năm thứ 4, Tân hợi (1851): 28 tuổi.
+++ Tháng ba âl..
++ Thi hội.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 275).
+++ Tháng tư âl..
++ Định lệ bổ quan cho cử nhân đã đi thi hội.
(sđd., tr. 279).
Nguyễn Văn Tường được bổ làm huốn đạo ở huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi. Như vậy, chắc hẳn ông đã dự thi hội, đạt phân số (điểm) nhất định để được bổ nhiệm (*).
---- (*) Thời gian Nguyễn Văn Tường được bổ làm huấn đạo Mộ Đức, Quảng Ngãi, người biên soạn căn cứ vào tư liệu gia phả do nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc sao chép.
(Xem: Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, Đại học Sư phạm TP. HCM., 20-06-1996, tr. 209 – 211…).
“Đại Nam thực lục chính biên” không ghi nhận giai đoạn này cũng như thời gian Nguyễn Văn Tường làm viên ngoại lang Bộ Binh và án sát Quảng Nam. ----
Cũng năm này, ở huyện Mộ Đức, phải bỏ bớt chức tri huyện và huyện thống thuộc vào phủ.

(ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 327).

9) Tự Đức năm thứ 5, Nhâm tí (1852): 29 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Định rõ lại lệ người hậu bổ theo thứ tự ưu tiên được bổ đi các huyện. Ưu tiên một là bổ cho những người đã được bổ làm giáo chức (theo lệ trước, giáo chức đủ ba năm giảng tập được bổ làm tri châu, tri huyện).
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 333).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Đổi định lệ sát hạch học quan. Huấn đạo do đốc học xét.
(sđd., tr. 362).
++ Nguyễn Đăng Giai tâu 3 việc biên giới, trong đó có vấn đề chia ghép chỗ ở cho bọn giặc Tam Đường ở Lạng Sơn (Lý Đại Xương, Lê Đạt Ký, Lý Tam Ích…).
(sđd., tr. 364).



B. CHƯƠNG HAI

III. THỜI LÀM TRI HUYỆN THÀNH HÓA (QUẢNG TRỊ).

10) Tự Đức năm thứ 6, Quý sửu (1853):
30 tuổi.
+++ Tháng sáu âl..
++ Lại định lệ bổ nhiệm tri huyện, tri châu cho các giáo thụ, huấn đạo.
(ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 389 – 390).
++ Tỉnh Quảng Trị được đổi thành đạo Quảng Trị, do kinh phủ Thừa Thiên thống hạt. Vua Tự Đức cho đặt chức tri huyện Thành Hóa.
(sđd., tr. 390 – 391).
++ Ở thời điểm này, tuần phủ Trị - Bình là Phạm Khôi. Sau khi đổi tỉnh làm đạo, Phạm Khôi về làm hữu tham tri Bộ Lễ; phủ doãn Thừa Thiên là Vũ (Võ) Trọng Bình.
(sđd., tr. 396, tr. 398).
Nguyễn Văn Tường nhận chức tri huyện Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị, từ đây cho đến hơn chín năm sau (theo lời của chính Nguyễn Văn Tường khi tâu lên vua Tự Đức).
(ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 172).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Vương Hữu Quang và 6 điều xử trị đạo Gia Tô.
(sđd., tr. 423).
Xin lưu ý: Đạo Thiên Chúa (Gia Tô, Christo) đã bị han chế rồi nghiêm cấm từ thời Gia Long (ĐNTL.CB., tập 1, sđd., tr. 154), thời Minh Mạng (tập 17, sđd., tr. 243 – 247), thời Thiệu Trị (tập 26, sđd., tr. 276, tr. 385).

11) Tự Đức năm thứ 7, Giáp dần (1854): 31 tuổi.
+++ Tháng giêng – hai âl..
++ An Phong công Hồng Bảo mưu khởi nghịch; nay tự thắt cổ nơi trại giam.
(ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 9 – 10).
+++ Tháng bảy nhuận âl..
++ Định rõ lại điều cấm về đạo Gia Tô (Christo).
(sđd., tr. 60 – 61).
+++ Tháng tám âl..
++ Cao Bá Quát ở Bắc Ninh họp nhóm một số người, mưu khởi nghịch (*).
---- (*) Thời điểm Cao Bá Quát nổi dậy, thực dân Pháp chưa xâm lược nước ta. Tuy vậy, “tả đạo” và “phù Lê” vẫn đang là hai vấn đề lớn ở Bắc Kỳ, gây khó khăn cho triều Nguyễn và đất nước, và cuộc nổi lọan của Cao Bá Quát cũng nằm trong tình hình phức tạp ấy.
Xin lưu ý đến “ngọn cờ phù Lê”, vốn đã bị lịch sử vượt qua, ở cuộc nổi loạn này. Nhà Lê chỉ là bù nhìn trong tay chúa Trịnh từ lâu trước đó (1545). Ngoài ra, rất cần thấy tác động ảnh hưởng của phong trào Thái bình Thiên quốc (bài Thanh phục Minh) từ Trung Hoa (nhà Thanh) dội về Bắc Kỳ.
Ở chú thích của mục tháng bảy âl., 1884, về chữ “giặc”, tôi (người biên soạn) đã ghi rõ: Căn cứ vào yêu cầu khách quan của bối cảnh lịch sử (có cần phải nổi dậy hay không? Hay chi là sự nổi loạn cá nhân?); căn cứ vào “ngọn cờ”, tuyên ngôn, khẩu hiệu và đặc biệt là họat động cụ thể, “thành phần” (xét dưới góc độ chủng tộc, tín ngưỡng…) của các lọai “giặc”, để từ đó, chắc hẳn phải xác minh cụ thể từng trường hợp một. Dưới thời phong kiến vẫn có câu truyền miệng hầu như không một ai không biết: “Được làm [:là] vua, thua làm [:là] giặc”. Và vũ khí thời xưa, vẫn còn thô sơ (gươm, đao, dáo, mác…), rất dễ tự chế tạo để nổi dậy. Các cuộc nổi dậy ấy, có thể là chính nghĩa, có thể chỉ là “giặc” nổi lọan, chỉ là bọn cướp đích thực…
Ở trường hợp Cao Bá Quát (“giặc châu chấu”), nếu căn cứ vào hai tiêu chí đánh giá kể trên, hẳn phải xếp vào loại bất mãn cá nhân, mưu đồ phục hồi quyền lực của Bắc Kỳ nói riêng, Đàng Ngoài nói chung.
Cao Bá Quát là một thi sĩ thiên tài và nổi loạn. ----

(sđd., tr. 62, tr. 82).
+++ Tháng chín âl..
++ Quan lại huyện Thành Hóa, Quảng Trị, đều được lệnh dùng người địa phương (người sinh trưởng ở đất ấy), từ thuộc viên đến tri huyện, vì ở đấy khí núi rất độc, và chiêu dụ thổ dân xiêu tán trở về phải là người địa phương giỏi việc.
(sđd., tr. 68).
Thân sinh của Nguyễn Văn Tường vốn là người thuộc họ Nguyễn Văn, làng An Xá Trung, huyện Đăng Xương (An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong), Quảng Trị (gốc gác bản quán là vùng Thanh – Nghệ). Do liên can đến một cuộc nổi dậy nhỏ, chống cường hào hoặc tham quan ô lại, cụ bị đày lên đây (*). Do đó, Nguyễn Văn Tường có thể vẫn thuộc diện người thổ trước (người địa phương) (**), phù hợp với lệnh sử dụng quan lại trên.
---- (*) Người biên sọan tham khảo từ một số tư liệu khác: Yoshiharu Tsuboi, “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, Ban KHXH. TU. TP. HCM. xb., 1990, tr. 268….Tuy nhiên, có thể cụ Nguyễn Văn Diêu chỉ vì lí do sinh kế, phải sống ở Cam Lộ một thời gian ngắn. ----
---- (**) Thổ: đất; trước: dính, bám chặt. Người thuộc dòng họ vốn đã sinh cơ lập nghiệp lâu đời, bám chặt vào mảnh đất đã thành quê nhà, được gọi là người thổ trước. ----

+++ Tháng mười hai âl..
++ Cao Bá Quát bị chết tại trận.
(sđd., tr. 84 – 85).

12) Tự Đức năm thứ 8, Ất mão (1855): 32 tuổi.
+++ Tháng tư âl..
++ Lê Duy Cự (hậu duệ nhà Lê, Cao Bá Quát tôn phù) bị án chém. Tỉnh thần (quan tỉnh) Hưng Yên Vũ Trọng Bình được thưởng.
(ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 122).

13) Tự Đức năm thứ 9, Bính thìn (1856) (*): 33 tuổi.
---- (*) Từ đây, người biên soạn hoàn toàn căn cứ vào “Đại Nam thực lục, chính biên”, các kỉ đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục, bộ sđd.. -----
+++ Tháng ba âl..
++ Thự tri huyện Thành Hóa Nguyễn Văn Tường bắt được tên côn đồ lọt lưới Nguyễn Quyền (kẻ tội phạm đang bị truy nã ấy lại bắt cóc trẻ con bán cho người Thượng!). Nguyễn Văn Tường được thưởng kỉ lục một thứ.
(ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 217).
++ Thời điểm này, phủ doãn là Nguyễn Văn Phong (tr. 202), đề đốc kinh thành là Tống Biện (tr. 223).
(sđd., tr. 202, tr. 223).
+++ Tháng năm âl..
++ Đào sông, từ Đại Hào đến Vệ Nghĩa (ven làng), thuộc huyện Đăng Xương, Quảng Trị.
(sđd., tr. 253).
+++ Tháng tám âl..
++ Nguyễn Văn Tường cùng đồng sự là phó quản cơ Định “man” Nguyễn Bằng phái thông lại Nguyễn Công Đạo chiêu phủ đồng bào thiểu số thành công, đều được thưởng. Nguyễn Văn Tường được kỉ lục một thứ. Trước khi được thưởng ông đã được thăng thực thụ tri huyện.
(sđd., tr. 271).
++ Tàu Pháp sinh sự ở cửa biển Đà Nẵng: ném một phong thư xin thông thương lên bãi cát; đe dọa gây chiến.
(sđd., tr. 275 – 277).
+++ Tháng chín âl..
++ Sứ sang nước Thanh (Trung Hoa) được hõan vì bên ấy có phong trào nổi dậy, lập Thái Bình thiên quốc, do Hồng Tú Toàn khởi xướng.
(sđd., tr. 278).
++ Tàu Pháp đưa thư ở của biển Thuận An (Huế).
(sđd., tr. 282 – 283).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Nguyễn Văn Phong thăng thự tuần phủ Ninh Bình.
(sđd., tr. 297).

14) Tự Đức năm thứ 10, Đinh tị (1857) (*): 34 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Nguyễn Văn Phong chiêu dụ được Lâm Ngô (con trai của thổ tri châu Lâm Kiềm, châu Mường Vang). Lâm Ngô chiêu tập được 270 người dân Thượng xiêu tán trở về. Lâm Ngô được kế tập chức tri châu. Tri huyện Nguyễn Văn Tường và phó quản cơ Nguyễn Bằng được hưởng mỗi người ba tháng tiền lương.
(ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 314 – 315).
+++ Tháng ba âl..
++ Quan huyện Thành Hóa chiêu phủ được “man” trưởng bạn Ba Ngạn, tên là Âm Bôn. Vua khen ngợi và thưởng cho “man” trưởng này. Nguyễn Văn Tường cùng Nguyễn Bằng được thưởng mỗi người kỉ lục hai thứ. Thí sai tri bạ Trần Hựu được thực thụ.
(sđd., tr. 324).
+++ Tháng năm âl..
++ Lâm Ngô ở châu Mường Vang (mới được thăng thụ tri châu) cùng cha (Lâm Kiềm) và các lại mục… đều được vua thưởng, vì cung tiến một thớt voi.
(sđd., tr. 335).
+++ Tháng mười một âl..
Hai nho sinh ở Quảng Bình Lương Trợ Lý, Hoàng Hữu Phu (làng Tiên Lễ, Lệ Sơn, huyện Minh Chính) viết đơn tố cáo: Một số người dân ngầm theo đạo Gia Tô (Christo); các cố đạo lợi dụng được tiền bạc của người giàu, sức lao động của người nghèo [và bằng niềm tin siêu hình, giải quyết vấn đề cách bức giàu – nghèo]… Nay để bài khử đạo Gia Tô (Christo), xin lập ra phép chia ruộng đều nhau (tư tưởng xã hội chủ nghĩa quân cấp, cá thể, dân gian).
Cả hai không được vua hiểu, nên Lương Trợ Lý bị phạt 100 trượng, đồ (đày khổ sai) 3 năm, Hoàng Hữu Phu được giảm 1 bậc, còn 90 trượng, 2 năm rưỡi đồ.
(sđd., tr. 381 – 382).
++ Giặc theo đạo Gia Tô (Christo)ở Hưng Yên và Nam Định quấy nhiễu.
(sđd., tr. 384, 387).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Giặc theo đạo Gia Tô, người thủ xướng có quê gốc Hưng Yên, đem lâu la đến Hải Dương bằng thuyền, để quấy nhiễu.
(sđd., tr. 392 v.v…).

15) Tự Đức năm thứ 11, Mậu ngọ (1858) (*): 35 tuổi.
+++ Tháng năm âl..
++ Phủ doãn Thừa Thiên vẫn là Đỗ Quang.
(ĐNTL.CB., tập 28, sđd., 424).
+++ Tháng bảy âl..
++ 12 chiến thuyền Pháp và Y Pha Nho (Tây Ban Nha) vào cửa biển Đà Nẵng, bắn phá hai thành Điện Hải, An Hải, mở đầu cuộc xâm lược thực sự bằng súng đạn vào nước ta (không kể vụ 1847).
(sđd., tr. 440 – 441).
+++ Tháng mười một âl..
++ Vua chuẩn cho các vùng sơn nguồn thuộc phủ Thừa Thiên, đạo Quảng Trị, tỉnh Nghệ An mua voi đánh trận.
(sđd., tr. 470).

16) Tự Đức năm thứ 12, Kỉ mùi (1859): 36 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ 20 chiếc thuyền Pháp và Y Pha Nho (Tây Ban Nha) bắn phá pháo đài Phúc Thắng tại Biên Hòa, đồn lũy ở Gia Định (Nam Kỳ) (01-09-1858)
(ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 9, 11).
++ Vũ Văn Kịch ở Hải Dương lại quấy phá mạnh.
(sđd., tr. 12).
++ Thành Gia Định thất thủ (17-02-1859).
(sđd., tr. 12 – 13).
+++ Tháng hai âl..
++ Đặt thêm chức tuyên phủ sứ và lãnh binh đạo Quảng Trị: đem lính đến trấn thủ tại hai cửa biển Việt An (Yên), Tùng Luật. Lãnh binh là Nguyễn Tán.
(sđd., tr. 17).
++ Cũng tháng này, vua chuẩn cho các sách “man” (7.760 người) ở 9 châu thuộc huyện Thành Hóa, Quảng Trị phải lưu tán chưa về được hoãn thuế 5 năm nữa.
(sđd., tr. 19).
+++ Tháng ba âl..
++ Quân Pháp, Y Pha Nho (Tây Ban Nha) đánh phá Thạch Than (Đà Nẵng).
(sđd., tr. 25, 26).
+++ Tháng tư âl..
++ Dân Thiên Chúa giáo (đạo Gia Tô) ở Gia Định cậy thế Pháp và Y Pha Nho (Tây Ban Nha), nên bị đàn áp mạnh.
(sđd., tr. 35).
+++ Tháng năm âl..
++ Triều thần bàn luận về vấn đề: chiến, hòa, thủ; chia ra làm nhiều phái.
(sđd., tr. 37 – 41).
++ Quảng Bình và Quảng Trị mua đá núi, gỗ cây cho việc đào sông.
(sđd., tr. 42).
++ Quảng Trị phòng thủ và đào sông tốt.
(sđd., tr. 45).
++ Cũng tháng năm âl. này, tri huyện Nguyễn Văn Tường vì khéo phủ dụ, được tặng thưởng kỉ lục một thứ; trưởng bang châu Tá Bang thuộc huyện là Lĩnh Tuấn tiến dâng một thớt voi đực và chiêu tập dân tốt, được vua khen thưởng, bổ làm thổ tri châu.
(sđd., tr. 48).
++ Thời điểm này, phủ doãn là Phan Đình Tuyển.
(sđd., tr. 51).
+++ Tháng sáu âl..
++ Thuyền Tây dương đốt thuyền vận tải (5 chiếc), thuyền buôn (3 chiếc) ở ngoài biển Quảng Trị, Quảng Bình.
(sđd., tr. 57).
+++ Tháng chín âl..
++ Dân các tỉnh (Bình - Trị, Nam – Ngãi) chở gạo lạc quyên đến Quảng Nam để phục vụ chiến đấu chống Pháp.
(sđd., tr. 74).
+++ Tháng mười âl..
++ Tuyên phủ sứ đạo Quảng Trị Vũ Văn Thục rút lính cơ Định “man” và lính đạo ấy, trước được điều vào Thừa Thiên, nay ra lại để chia phái, luân phiên đóng ở Bảo Đài (giáp Quảng Bình), mặc dù theo vua, đồn ấy không quan yếu lắm.
(sđd., tr. 80 – 81).
++ Thời điểm này, phủ doãn: vẫn Phan Đình Tuyển; đề đốc: Nguyễn Sơn; phủ thừa: Kiều Khắc Hài.
(sđd., tr. 81, 135).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Quảng Trị và các trực tỉnh khác lập nghĩa thương (kho thóc cứu trợ) cho từng xã.
(sđd., tr. 90).
++ Định lại điều cấm quan lại theo đạo Gia Tô (Christo).
(sđd., tr. 91).

17) Tự Đức năm thứ 13, Canh thân (1860): 37 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Thống soái Pháp Va Du (*) (page) đưa “hòa” ước 11 khoản đến quân thứ Gia Định.
---- (*) Người biên soạn vẫn giữ nguyên cách phiên ấm của Quốc sử quán triều Nguyễn để tiện tra cứu vào nguyên tác (hoặc bản dịch): ĐNTL.CB.. ----
(ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 99).
+++ Tháng năm âl..
++ Giặc Cao Mên đóng đồn ở Chu Ức, Trà Bông (Gia Định), chống đánh nước ta.
(sđd., tr. 119).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Giặc Hồi cờ trắng cướp Bảo Thắng, châu Thủy Vỹ (tỉnh Hưng Hóa).
(sđd., tr. 167).
++ Thuyền Pháp đến Bân Côn rồi Ngao Châu (tỉnh Vĩnh Long) chuẩn bị đánh chiếm.
(sđd., tr. 176 – 177).

18) Tự Đức năm thứ 14, Tân dậu (1861): 38 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Nguyễn Tri Phương bị thương (25-02-1861); đồn Chí Hòa thất thủ.
(sđd., tr. 184).
+++ Tháng ba âl..
++ Pháp đánh Định Tường; tỉnh thành thất thủ (12-04-1861).
(ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 197 – 201).
+++ Tháng tư âl..
++ Thự phủ thừa Thừa Thiên Nguyễn Túc Trưng cùng một số quan tâu xin đi theo quân thứ vào Nam Kỳ đánh Pháp.
(sđd., tr. 203).
++ Nguyễn Bá Nghi bàn “hòa”.
(sđd., tr. 208 – 213, tr. 226 – 228).
+++ Tháng tám âl..
++ Trương Định (phó quản cơ), Nguyễn Thành Ý (tri phủ Phước Tuy), Phan Trung (tùy phái) chiêu mộ dân dõng đến hàng vạn người, đánh Pháp.
(sđd., tr. 239).
+++ Tháng mười một âl..
++ Pháp đánh chiếm Biên Hòa, Bà Rịa (18-12-1861).
(sđd., tr. 255 – 256).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Ở Quảng Yên, nổi lên tên giặc Pi E (Pierre) Tạ Văn Phụng (Phượng) do cố đạo Trường (Legrand de la Liraye, người Pháp (*)), làm quân sư.
---- (*) Một số cố đạo thực dân khác có tên tiếng Việt như cụ Xuyên (M.G. Sampedro), cụ Liêm (Hermosilla)… ----
(sđd., tr. 263 – 264).

19) Tự Đức năm thứ 15, Nhâm tuất (1862): 39 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Pháp đánh và chiếm thành Vĩnh Long (23-03-1862).
(ĐNTL.CB., tập 29, sđd., tr. 286 – 289).
+++ Tháng tư âl..
++ Lãnh binh quan Quảng Trị Nguyễn Tán thăng thụ chưởng vệ, quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ ở kinh đô Huế.
(sđd., tr. 296).
+++ Tháng tư – năm âl..
++ Phô Na (Bonard) sai Xuy Mông (simon) đến Thuận An (Huế) đưa thư bàn “hòa”, vào tháng 3 âl..
(sđd., tr. 297).
++ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp xin đi Gia Định, và kí ngay “hòa” ước 09-05 âl., Nhâm tuất (05-06-1862).
Có một số điều khỏan cần lưu ý:
- Điều khoản 2: Phú (Pháp) và Y (Tây Ban Nha) được tự do truyền đạo Thiên Chúa…
- Điều khoản 3: Nhượng đất cho Phú (Pháp): 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn. Tàu thuyền Pháp còn được đi vào sông Khung Giang (Mê Kông) qua Cao Miên…
- Điều khoản 4: Nếu Đại Nam muốn nhượng đất cho nước nào khác, phải được Pháp bằng lòng…
- Điều khoản 5: Đại Nam phải mở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt (Nam Định), Quảng yên cho Pháp và Tây Ban Nha vào buôn bán, có nộp thuế…
- Điều khoản 8: Bồi thường chiến phí (!) cho Pháp và Tây Ban Nha 400 vạn (4.000.000) đồng; chia ra để trả trong 10 năm. Mỗi đồng nặng 7 đồng cân 2 phân bạc ròng.
- Điều khoản 9: Giao trả cho nhau giặc trốn của hai nước (Đại Nam và Miền Đông Nam Kỳ thuộc Pháp).
- Điều khoản 10: Pháp vẫn còn đóng quân ở tỉnh Vĩnh Long nhưng không tổ chức cai trị dân ở đấy. Bao giờ Đại Nam rút hết các quan quân còn do thám để tái chiếm, hiện vẫn ở Gia Định, Định Tường về, bấy giờ Pháp mới rút quân ở Vĩnh Long, trả lại cho Đại Nam tỉnh ấy.
(sđd., tr. 297 – 305).
+++ Tháng năm âl..
++ Điều động một số dân dõng ở hai tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, mỗi nơi một cơ, vệ, để đóng giữ Thanh – Nghệ.
(sđd., tr. 309).
+++ Tháng sáu âl..
++ Lập đền thờ anh hùng chống Pháp Trần Xuân Hòa (cử nhân, người Thâm Khê, Hải Lăng, Quảng Trị; tử tiết tại Định Tường, vào mùa đông năm ngoái, Tân dậu [1861]). Vua Tự Đức sai quản đạo Quảng Trị mỗi năm đến tế hai lần.
(sđd., tr. 318 – 319).
+++ Tháng tám âl..
++ Phủ doãn Phan Đình Tuyển sung làm tán lí quân thứ ra Bắc Kỳ tiễu phỉ.
(sđd., tr. 326 – 327).
+++ Tháng mười âl..
++ Tôn Thất Đính thay Nguyễn Sơn làm đề đốc kinh thành.
(sđd., tr. 346).



(Hết chương hai
Xem tiếp chương ba)